Thứ Tư, 26 tháng 10, 2016

NHÂN THỪA PHẬT GIÁO - Ý NGHĨA PHÁP QUY Y

Giáo pháp Phật chia làm năm thừa, năm thừa ấy, nhơn thừa là bước đầu, ai ai cũng phải trải qua trước khi đến các bậc khác.
Thừa có nghĩa là cổ xe đưa người đưa người chỗ này đến chỗ khác. Giáo pháp có thể đưa người từ bậc này sang bậc khác gọi là thừa. Nhơn thừa là cổ xe nhân loại, nhờ cổ xe ấy loài người có thể tiến hóa đến những từng bậc cao hơn về hai phương diện phúc đức và trí tuệ. Phương pháp Phật dạy trong nhơn thừa có thể tóm lại trong hai pháp là tam quy và năm giới. Tam quy là nói tắt, nói đủ là tam quy y - là ba thứ quy y. Quy y có nhiều nghĩa, mà cái nghĩa dễ hiểu là quay về nương tựa.
Chúng ta đã nhiều kiếp quên mất bản tánh chơn thường, cứ đuổi theo vọng niệm, trong bị thân thể ràng buộc, ngoài bị hoàn cảnh sai khiến, tạo ra các nghiệp lỗi lầm, nên phải chịu luân hồi khổ não. Ngày nay chúng ta nhờ Phật từ bi chỉ dạy, biết mình đi lạc thì cần phải bỏ vọng quay về chơn lý, nương theo chân lý mà bước tới thì mới khỏi sa đọa. Song chơn lý là tuyệt đối, không thể phô bày, không thể nghĩ bàn nên chúng ta chỉ có thể xoay về nương tựa với Phật, Pháp, hiền Thánh Tăng, là ngôi tam bảo làm tiêu biểu cho chân lý.
Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn, đã nương theo chơn lý tu hành vô lượng số kiếp nên đã chứng rõ toàn thể toàn dụng của chân lý, đoạn trừ các điều ràng buộc, các sự mê lầm và đầy đủ vô lượng vô biên công đức.
Lòng từ bi của Phật thương xót chúng sanh như mẹ thương con, nếu chúng sanh phát tâm quay về nương tựa Phật, thì chẳng khác nào người con hoang bỏ nhà ra đi nay hết quay về nương tựa bà mẹ hiền, quyết định không còn lung lạc nữa. Đức Đại Thế Chí Bồ Tát có dạy: “Nếu chúng sanh tưởng Phật nhớ Phật thì hiện tiền hoặc đời sau quyết sẽ thấy Phật”. Ví như trà ướp hương sẽ có mùi hương. Chúng sanh được thân cận với Phật, thì cũng thâm nhiễm được sự giác ngộ, lo gì không chứng được thánh quả. Song muốn nhận hiểu Phật một cách rõ ràng để khỏi các điều mê tín dị đoan thì phải tham học những lời Phật dạy rồi quyết định nương theo Phật pháp mà tu trì. Phật pháp vô lượng vô biên, người trí cũng chưa dễ học hết. Nhưng chúng ta học được pháp nào thì thực hành pháp ấy, như Tam quy, ngũ giới, niệm Phật thì thực hành theo pháp ấy, dù học ít mà có hành còn hơn học nhiều mà không tu tập.
Pháp Tam quy có hai phương diện, tiêu cực và tích cực. Về tiêu cực là:
Quy y Phật suốt đời không quy y trời thần quỷ vật - nghĩa là chúng ta đã quay về nương tựa với Phật là bậc giác ngộ rồi thì quết định không nương theo những chúng sanh nào chưa giác ngộ, như trời thần quỷ vật. Chúng ta nguyện như vậy không phải có ý khinh rẻ các vị ấy, ta là đệ tử Phật thì lúc nào cũng phải khiêm tốn, kính nể nhưng không quy y. Vì Quy y là tỏ lòng tin cậy, mà lòng tin lúc nào cũng phải chuyên chú mới được kết quả mỹ mãn. Nhờ tin chuyên chú, chúng ta mới có thể gặp Phật sau này, khỏi bị các vị kia kéo đi nơi khác.
Quy y Pháp nguyện suốt đời kiếp không quy y ngoại đạo tà giáo, là quay về với chánh pháp, Phật đã dạy. Ngoại đạo là tin những điều sai với chánh pháp, những điều thêm mê tín dị đoan, không phải lời Phật dạy là lý thuyết ngoại đạo. Ngoại đạo là ngoài lời dạy của Phật, phàm những phương pháp tu trì ra ngoài con đường tu chân chánh thì đều gọi là ngoại đạo cả. Còn tà giáo là những lời dạy tà vạy không đúng chân lý, những thuyết hiện thân khoái lạc làm cho người khinh rẻ đạo đức và bị đọa lạc. Đã quy y với chánh pháp của Phật dạy thì chỉ tin lời Phật dạy, chứ không tin càng tin quấy.
Quy y Tăng không quy y tổn hữu ác đảng, là quay về với hiền Thánh Tăng, thì không tin theo bạn xấu đãng ác. Bạn xấu là những người làm tổn hại lòng tin chánh đáng của ta, làm tổn hại sự tu hành chơn chánh của ta. Đang tin Phật bảo tin thần thánh, đang giữ giới họ bảo phá giới. Cho đến những ông thầy bày vẽ cúng sao cúng hạn, ngày tốt, ngày xấu, đốt giấy, vàng mã v.v...là bạn ác là thấy tà. (Vì những thứ này do những tín ngưỡng nhân gian chứ không có trong kinh của Phật dạy, hể ai tin theo, làm theo là trái lời dạy của Phật là mê tín, là tà tín là người ác chứ không phải hiền. Vì sao ác vì mê thì đi đến con đường sa đọa đau khổ, còn chánh tín là thoát khổ là giải thoát.)
Còn ác đảng là những đảng dữ, kết bè kết lũ làm những chuyện độc ác. Đã Quy y Tăng rồi thì không tin theo thầy tà bạn xấu, ác đảng đó nữa. Vì họ có thể cho ta mất tín ngưỡng chân chánh, bị trụy lạc trong đường tội lỗi.
Về phương diện tích cực:
- Tự Quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm. Nghĩa là mình đã Quy y Phật rồi, nên nguyện cho tất cả chúng sanh đều rõ biết chánh đạo rộng lớn của Phật và phát tâm cầu nguyện được giải thoát giác ngộ. Cái tâm niệm ấy là cái tâm muốn chúng sanh lợi lạc, cái tâm niệm trên tất cả tâm niệm khác.
- Tự Quy y pháp đương nguyện chúng sanh thâm nhập kinh tạng trí huệ như hải. Nghĩa là mình đã Quy y pháp rồi, thì nên nguyện chúng sanh đều thấu hiểu nghĩa kinh tạng, trí huệ mở rộng như biển.
- Tự Quy y Tăng đương nguyện chúng sanh thống lý đại chúng hết thảy không ngại, nghĩa là tự mình đã Quy y Tăng rồi thì nguyện tất cả chúng sanh đều đủ sức chỉ dạy, coi ngó quần chúng trong đường tu hành không có gì ngăn ngại. Vậy người Phật tử đã quy y Tam Bảo rồi, phải hoằng dương chánh pháp, khuyên bảo mọi người quy y để cho cái bản nguyện của mình được viên mãn.
Người theo pháp Quy y về phương diện tiêu cực thì được lợi ích về phần tự giác, về trí huệ. Người theo pháp Tam quy về phương diện tích cực thì được lợi ích về phần giác tha, về phần phước đức. Đối với người tu hành muốn đến quả Phật thì phước đức và trí tuệ ví như chim có hai cái cánh, nếu thiếu không thể bay xa.
Như vậy trong Phật Pháp dù là bước đầu cũng làm cho người tu hành đủ phước đức và trí tuệ, cũng có thể đưa người đến từng bậc cao xa, chứ không hạn chế trong nghiệp mà thôi./.

b ] a

NHÂN THỪA PHẬT GIÁO - Ý NGHĨA PHÁP QUY Y Rating: 4.5 Diposkan Oleh: CHÙA TAM BẢO TAM KỲ

0 nhận xét:

Đăng nhận xét