Thứ Tư, 26 tháng 10, 2016

BÁT NHÃ TÂM KINH

BÁT NHÃ TÂM KINH

Bát Nhã Ba la Mật Đa Tâm kinh, nói gọn là Kinh Bát Nhã. Hoặc gọi là Tâm Kinh. Tâm kinh thuộc hệ kinh Bát Nhã. Kinh này có lẽ được viết ra vào khoản thời gian 100 năm trước công nguyên và 600 sau công nguyên. Xét theo hiển nghĩa, chủ đề chính của các bộ kinh Bát Nhã chính là Tuệ giác Toàn hảo, là chứng ngộ thâm sâu về điều mà Phật giáo gọi là Tánh không.
          Tâm kinh gói trọn ý nghĩa thâm thúy của tâm Bồ đề, là tâm nguyện rộng lớn muốn đạt giác ngộ để cứu độ chúng sanh. Tất cả mọi kinh sách thuộc hệ Bát Nhã đều nói về kết hợp thâm diệu của Từ Bi và Trí Tuệ.
          Một trong những điều quan trọng nhất đối với người theo Phật giáo là làm cách nào cho tâm thôi chấp bám, nhất là chấp vào thực tại cố định của cảnh giới nội tâm và ngoại cảnh.
          Theo Phật giáo, khổ đau bắt nguồn từ thói quen bám víu vào tánh chất cố định của thực tại, trong khi thực sự không có gì là cố định cả. Thói quen này đã ăn sâu vào trong tâm, nhất là thói quen bám vào khái niệm về cái TÔI. Chính cái thái độ chấp bám này là gốc rễ của mọi vấn đề lớn của chúng ta khi tiếp xúc với thế giới và con người xung quanh, và cũng vì thói quen này đã ăn sâu vào trong tâm thức, nên trừ phi mình phá vỡ nhận thức ngây thơ của chính mình về bản thân về thế giới xung quanh, ngoài ra không còn con đường nào khác để đến với giải thoát chân chính.
          Tâm kinh dứt khoát phủ nhận tự tánh của tất cả, nhất là phủ nhận tự tánh của 5 uẩn. Tâm kinh vừa khai triển rộng lớn ý nghĩa của Trí tuệ trong Phật giáo, lại vừa chính là hiện thân của Trí tuệ ấy.
          Tâm kinh vừa có thể giúp thiền quán về tánh không, vừa có khả năng phá tan chướng ngại trên con đường tu tập. Phần lớn chúng ta gọi là chướng ngại thật ra bắt nguồn từ thói quen chấp bám vào hiện hữu của chính mình, vào đủ loại khái niệm về tự ngã. Nếu chịu khó suy xét sâu xa, thấy được thực chất mọi việc là KHÔNG, khi ấy nền tảng phát sanh ra cái gọi là chướng ngại đó sẽ tiêu tan ngay từ trong cội rễ của tâm thức. Vì vậy nói bát Nhã Tâm kinh là phương pháp diệt trừ vượt chướng ngại cực kỳ hữu hiệu.
          Bát Nhã Ba La Mật Đa, có nghĩa là trực chứng tánh không, không qua trung gian nào cả. Điều này cũng có khi được gọi là tâm Bồ đề cứu cánh. Tâm Bồ Đề có hai phần, vừa nguyện độ chúng sanh vừa nguyện giác ngộ thành Phật. Vì thành Phật rồi mới thật sự có khả năng độ thoát chúng sanh.
          Những gì chúng ta đang trải qua là quả của hoạt động vô minh, được hình thành từ sức đẩy của nghiệp lực và phiền não, đồng thời cũng bị nghiệp lực phiền não thao túng, sai sử.
          Trong Tâm kinh phủ nhận không có vô minh, và sự diệt tận của vô minh, cho đến lão tử và sự diệt tận của lão tử. Đoạn này phủ nhận 12 duyên khởi. Tâm kinh phủ nhận tiếp “không khổ, không tập, không diệt, đạo, không trí tuệ, không thủ đắc và không cả sự không thủ đắc”. Đoạn nầy Tâm kinh phủ nhận Tứ đế cho đến phủ nhận cả Niết Bàn. Vì trong Tâm kinh, Niết bàn được hiểu là thật tánh của tâm, là trạng thái trong sáng tách lìa mọi phiền não nhiễm ô. Vì tâm vốn trong sáng vì tâm có Phật tánh, nên chỉ cần tách phiền não ra thì sự trong sáng là giác ngộ tự nhiên sẽ vén mở. Ví như lớp bụi được lau xong mặt gương sẽ hiện ra rõ sự trong sáng, ví như mây ra khỏi thì mặt trời hiển lộ. Vì vậy tánh không của Tâm được gọi là nền tảng của Niết bàn, là bản tánh Niết bàn. Khi biết áp dụng biện pháp hóa giải phiền não, thanh tịnh hóa tâm thức, dần dần tâm sẽ tách lìa khỏi mọi chướng ngại. Tánh không của Tâm: Không ô nhiễm này chính là Niết bàn chân thật, là giải thoát, chỉ khi nào trực chứng được thật tánh của Tâm trong trạng thái toàn hảo và thanh tịnh nhất mới gọi là giải thoát, là đạt đến Niết bàn.
          Mọi sắc thái của đường tu giác ngộ. Ví dụ như khả năng giác ngộ sẳn có, con đường tu, hay thành quả giác ngộ, Tất cả đều không có tự tánh, và chính không có tự tánh, nên đều sẵn có bản tánh Niết bàn. Nhờ quán chiếu sâu xa bản tánh Niết bàn này, hành giả sẽ có khả năng làm tan biến các loại khổ đau đến từ hiểu biết sai lầm về sự vật, nói cách khác, đến từ vô minh. Căn bản, chẳng những có thể xóa tan khổ đau, ngay cả tập khí của vô minh chấp ngã và tất cả mầm mống nghiệp thức gieo lại từ những hành động vô minh trong quá khứ đều có thể xóa sạch. Nói cách khác, chúng ta có thể diệt sạch toàn bộ vô minh trong hiện tại, mầm mống vô minh trong quá khứ và khuynh hướng tạo vô minh trong tương lai. Tâm kinh nói tiếp: “vượt thoát vô minh một cách toàn diện như vậy rồi, sẽ không còn khiếp sợ, sẽ đạt đến cứu cánh là vô trú Niết bàn của Phật Đà”.
Từ đầu đến ngang đây, Tâm kinh giảng tánh không thuận theo căn cơ người bình thường. Trong phần tiếp theo, Tâm kinh sẽ vì những căn cơ phi thường mà trình bày ngắn gọn về tánh không qua dạng mật chú. Tâm kinh nói như sau:
“Do đó nên biết, chú Bát Nhã Ba La Mật Đa, chú của Đại trí tuệ, Tối thượng, đồng bậc với tuyệt bậc, trừ được hết thảy khổ não, là thần chú chân thật và không hư ngụy”.
          Ở đây chính bản thân của Bát Nhã Ba La Mật Đa, được gọi là “Thần chú”. Nguyên văn chữ thần chú có nghĩa là “hộ trì tâm thức”. “Chứng đắc Bát Nhã Ba La Mật Đa sẽ che chở tâm thức thoát khỏi mê lầm, thoát khỏi phiền não, đến từ mê lầm và thoát khỏi cái khổ đến từ phiền não”.
Gọi Bát Nhã Ba La Mật Đa là “Thần chú của đại trí tuệ” vì thâm nhập ý nghĩa rốt ráo của Bát Nhã Ba La Mật Đa sẽ đoạn trừ được ba độc tham, sân, si. Gọi  “tối thượng” vì không có phương tiện nào vĩ đại hơn Bát Nhã Ba La Mật Đa để cứu vớt chúng sanh ra khỏi hai bờ cực đoan, là khổ đau luân hồi và an lạc riêng lẽ của Niết bàn cá nhân. Gọi là “đồng bậc với tuyệt bậc” vì địa vị giác ngộ của Phật không gì có thể sánh bằng, đồng thời hành giả có thể chứng ngộ sâu xa chú này và đạt đến địa vị không gì sánh bằng đó. Cuối cùng gọi “trừ hết được thảy khổ não”, vì Bát Nhã Ba La Mật Đa trừ được khổ đau trong hiện tại, đồng thời xóa sạch tất cả mọi tiềm năng tạo khổ trong tương lai.
Bát Nhã Ba La Mật Đa là chân đế, là chân lý rốt ráo, nên gọi là “chân thật”. Khác với tục đế, cảnh giới của chân đế hoàn toàn không có sự sai biệt giữa tướng và tánh. Vì vậy mà nói tướng chân đế là “không hư ngụy”. Ngoài ra, tính chất không hư ngụy này cho ta thấy khi chứng được thần chú Bát Nhã, có thể nhờ Bát Nhã Ba La Mật Đa mà giải thoát toàn diện khổ đau và nguyên nhân của khổ đau. Nhìn từ khía cạnh này, cũng có thể nói Bát Nhã Ba La Mật Đa là chân thật.
Câu thần chú của Bát Nhã Ba La Mật Đa là: “Tadyatha gate gate paragate parasamgate Bodhi svaha”.
Chữ Tadyatha tiếng phạn có nghĩa là “như sau”  dùng từ chuyển tiếp, nguyên câu chú được dịch nghĩa như sau “vượt qua, vượt qua, vượt qua bên kia, vượt qua hoàn toàn, an trú trong giác ngộ”. Chữ  gate gate là “đi, đi” “paragate” là “vượt qua”, “Parasamgate” là “vượt qua hoàn toàn” và “bodhi svaha” có thể hiểu là “an trụ vững vàng trong giác ngộ”.
Hình ảnh “Vượt qua bờ bên kia” có thể dùng làm cảnh ngữ của câu chú này, nói cách khác bờ bên này chỉ cho vô thủy là luân hồi, và nếp sống vô minh. Bờ bên kia là bờ cứu cánh Niết bàn, của sự giải thoát toàn diện./.

b é a

BÁT NHÃ TÂM KINH Rating: 4.5 Diposkan Oleh: CHÙA TAM BẢO TAM KỲ

0 nhận xét:

Đăng nhận xét