BÁT NHÃ TÂM KINH
Bát Nhã
Ba la Mật Đa Tâm kinh, nói gọn là Kinh Bát Nhã. Hoặc gọi là Tâm Kinh. Tâm kinh
thuộc hệ kinh Bát Nhã. Kinh này có lẽ được viết ra vào khoản thời gian 100 năm
trước công nguyên và 600 sau công nguyên. Xét theo hiển nghĩa, chủ đề chính của
các bộ kinh Bát Nhã chính là Tuệ giác Toàn hảo, là chứng ngộ thâm sâu về điều
mà Phật giáo gọi là Tánh không.
Tâm
kinh gói trọn ý nghĩa thâm thúy của tâm Bồ đề, là tâm nguyện rộng lớn muốn đạt
giác ngộ để cứu độ chúng sanh. Tất cả mọi kinh sách thuộc hệ Bát Nhã đều nói về
kết hợp thâm diệu của Từ Bi và Trí Tuệ.
Một
trong những điều quan trọng nhất đối với người theo Phật giáo là làm cách nào
cho tâm thôi chấp bám, nhất là chấp vào thực tại cố định của cảnh giới nội tâm
và ngoại cảnh.
Theo
Phật giáo, khổ đau bắt nguồn từ thói quen bám víu vào tánh chất cố định của
thực tại, trong khi thực sự không có gì là cố định cả. Thói quen này đã ăn sâu
vào trong tâm, nhất là thói quen bám vào khái niệm về cái TÔI. Chính cái thái
độ chấp bám này là gốc rễ của mọi vấn đề lớn của chúng ta khi tiếp xúc với thế
giới và con người xung quanh, và cũng vì thói quen này đã ăn sâu vào trong tâm
thức, nên trừ phi mình phá vỡ nhận thức ngây thơ của chính mình về bản thân về
thế giới xung quanh, ngoài ra không còn con đường nào khác để đến với giải
thoát chân chính.
Tâm
kinh dứt khoát phủ nhận tự tánh của tất cả, nhất là phủ nhận tự tánh của 5 uẩn.
Tâm kinh vừa khai triển rộng lớn ý nghĩa của Trí tuệ trong Phật giáo, lại vừa
chính là hiện thân của Trí tuệ ấy.
Tâm
kinh vừa có thể giúp thiền quán về tánh không, vừa có khả năng phá tan chướng
ngại trên con đường tu tập. Phần lớn chúng ta gọi là chướng ngại thật ra bắt
nguồn từ thói quen chấp bám vào hiện hữu của chính mình, vào đủ loại khái niệm
về tự ngã. Nếu chịu khó suy xét sâu xa, thấy được thực chất mọi việc là KHÔNG,
khi ấy nền tảng phát sanh ra cái gọi là chướng ngại đó sẽ tiêu tan ngay từ trong
cội rễ của tâm thức. Vì vậy nói bát Nhã Tâm kinh là phương pháp diệt trừ vượt
chướng ngại cực kỳ hữu hiệu.
Bát
Nhã Ba La Mật Đa, có nghĩa là trực chứng tánh không, không qua trung gian nào
cả. Điều này cũng có khi được gọi là tâm Bồ đề cứu cánh. Tâm Bồ Đề có hai phần,
vừa nguyện độ chúng sanh vừa nguyện giác ngộ thành Phật. Vì thành Phật rồi mới
thật sự có khả năng độ thoát chúng sanh.
Những
gì chúng ta đang trải qua là quả của hoạt động vô minh, được hình thành từ sức
đẩy của nghiệp lực và phiền não, đồng thời cũng bị nghiệp lực phiền não thao
túng, sai sử.
Trong
Tâm kinh phủ nhận không có vô minh, và sự diệt tận của vô minh, cho đến lão tử
và sự diệt tận của lão tử. Đoạn này phủ nhận 12 duyên khởi. Tâm kinh phủ nhận
tiếp “không khổ, không tập, không diệt,
đạo, không trí tuệ, không thủ đắc và không cả sự không thủ đắc”. Đoạn nầy
Tâm kinh phủ nhận Tứ đế cho đến phủ nhận cả Niết Bàn. Vì trong Tâm kinh, Niết
bàn được hiểu là thật tánh của tâm, là trạng thái trong sáng tách lìa mọi phiền
não nhiễm ô. Vì tâm vốn trong sáng vì tâm có Phật tánh, nên chỉ cần tách phiền
não ra thì sự trong sáng là giác ngộ tự nhiên sẽ vén mở. Ví như lớp bụi được
lau xong mặt gương sẽ hiện ra rõ sự trong sáng, ví như mây ra khỏi thì mặt trời
hiển lộ. Vì vậy tánh không của Tâm được gọi là nền tảng của Niết bàn, là bản
tánh Niết bàn. Khi biết áp dụng biện pháp hóa giải phiền não, thanh tịnh hóa
tâm thức, dần dần tâm sẽ tách lìa khỏi mọi chướng ngại. Tánh không của Tâm:
Không ô nhiễm này chính là Niết bàn chân thật, là giải thoát, chỉ khi nào trực
chứng được thật tánh của Tâm trong trạng thái toàn hảo và thanh tịnh nhất mới
gọi là giải thoát, là đạt đến Niết bàn.
Mọi
sắc thái của đường tu giác ngộ. Ví dụ như khả năng giác ngộ sẳn có, con đường
tu, hay thành quả giác ngộ, Tất cả đều không có tự tánh, và chính không có tự
tánh, nên đều sẵn có bản tánh Niết bàn. Nhờ quán chiếu sâu xa bản tánh Niết bàn
này, hành giả sẽ có khả năng làm tan biến các loại khổ đau đến từ hiểu biết sai
lầm về sự vật, nói cách khác, đến từ vô minh. Căn bản, chẳng những có thể xóa
tan khổ đau, ngay cả tập khí của vô minh chấp ngã và tất cả mầm mống nghiệp
thức gieo lại từ những hành động vô minh trong quá khứ đều có thể xóa sạch. Nói
cách khác, chúng ta có thể diệt sạch toàn bộ vô minh trong hiện tại, mầm mống
vô minh trong quá khứ và khuynh hướng tạo vô minh trong tương lai. Tâm kinh nói
tiếp: “vượt thoát vô minh một cách toàn diện như vậy rồi, sẽ không còn khiếp
sợ, sẽ đạt đến cứu cánh là vô trú Niết bàn của Phật Đà”.
Từ đầu đến ngang đây, Tâm kinh giảng tánh không thuận theo căn cơ người
bình thường. Trong phần tiếp theo, Tâm kinh sẽ vì những căn cơ phi thường mà
trình bày ngắn gọn về tánh không qua dạng mật chú. Tâm kinh nói như sau:
“Do đó nên biết, chú Bát Nhã Ba La Mật Đa, chú của Đại trí tuệ, Tối
thượng, đồng bậc với tuyệt bậc, trừ được hết thảy khổ não, là thần chú chân
thật và không hư ngụy”.
Ở
đây chính bản thân của Bát Nhã Ba La Mật Đa, được gọi là “Thần chú”. Nguyên văn
chữ thần chú có nghĩa là “hộ trì tâm thức”. “Chứng đắc Bát Nhã Ba La Mật Đa sẽ che chở tâm thức thoát khỏi mê lầm,
thoát khỏi phiền não, đến từ mê lầm và thoát khỏi cái khổ đến từ phiền não”.
Gọi Bát Nhã Ba La Mật Đa là “Thần chú của đại trí tuệ” vì thâm nhập ý
nghĩa rốt ráo của Bát Nhã Ba La Mật Đa sẽ đoạn trừ được ba độc tham, sân, si.
Gọi “tối thượng” vì không có phương tiện
nào vĩ đại hơn Bát Nhã Ba La Mật Đa để cứu vớt chúng sanh ra khỏi hai bờ cực
đoan, là khổ đau luân hồi và an lạc riêng lẽ của Niết bàn cá nhân. Gọi là “đồng
bậc với tuyệt bậc” vì địa vị giác ngộ của Phật không gì có thể sánh bằng, đồng
thời hành giả có thể chứng ngộ sâu xa chú này và đạt đến địa vị không gì sánh
bằng đó. Cuối cùng gọi “trừ hết được thảy khổ não”, vì Bát Nhã Ba La Mật Đa trừ
được khổ đau trong hiện tại, đồng thời xóa sạch tất cả mọi tiềm năng tạo khổ
trong tương lai.
Bát Nhã Ba La Mật Đa là chân đế, là chân lý rốt ráo, nên gọi là “chân
thật”. Khác với tục đế, cảnh giới của chân đế hoàn toàn không có sự sai biệt
giữa tướng và tánh. Vì vậy mà nói tướng chân đế là “không hư ngụy”. Ngoài ra,
tính chất không hư ngụy này cho ta thấy khi chứng được thần chú Bát Nhã, có thể
nhờ Bát Nhã Ba La Mật Đa mà giải thoát toàn diện khổ đau và nguyên nhân của khổ
đau. Nhìn từ khía cạnh này, cũng có thể nói Bát Nhã Ba La Mật Đa là chân thật.
Câu thần chú của Bát Nhã Ba La Mật Đa là: “Tadyatha gate gate paragate parasamgate Bodhi svaha”.
Chữ Tadyatha tiếng phạn có nghĩa là “như sau” dùng từ chuyển tiếp, nguyên câu chú được dịch
nghĩa như sau “vượt qua, vượt qua, vượt
qua bên kia, vượt qua hoàn toàn, an trú trong giác ngộ”. Chữ gate gate là “đi, đi” “paragate” là “vượt
qua”, “Parasamgate” là “vượt qua hoàn toàn” và “bodhi svaha” có thể hiểu là “an
trụ vững vàng trong giác ngộ”.
Hình ảnh “Vượt qua bờ bên kia” có thể dùng làm cảnh ngữ của câu chú
này, nói cách khác bờ bên này chỉ cho vô thủy là luân hồi, và nếp sống vô minh.
Bờ bên kia là bờ cứu cánh Niết bàn, của sự giải thoát toàn diện./.
b é a
0 nhận xét:
Đăng nhận xét