BỔN PHẬN VÀ TRÁCH NHIỆM TRỤ TRÌ
1/ Đối với tự thân: Phải tập tánh kiềm
chế tự thân khắc khổ với ý muốn, không từ nan những việc làm hữu ích, không rụt
rè chừa bỏ những cử chỉ có hại đến sự tu tập.
a/ Đời sống thanh đạm: Đối với các việc
ăn, mặc, ở phải thô sơ đạm bạc. Chính đời sống thô sơ đạm bạc ấy mới bớt được
sự tham cầu, tăng trưởng trí tuệ và tăng trưởng giá trị thanh cao cho người tu
học. Đức Phật dạy “ Tấn đạo nghiêm thân tam thường bất túc ”.
b/ Không phân biệt gia đình nào: Gia đình
riêng biệt là xiềng xích trói buộc chí tiến thủ, lợi sanh giây dưa tham ái đưa
người vào dòng luân hồi. Người xuất gia không gia đình, không riêng biệt, chan
hòa đời mình vào trong gia đình đại chúng phục vụ nhân sanh.
c/Luôn nghiên cứu Phật pháp: Phật pháp
là ngọn đuốc phá tan màn ngu si hắc ám cho chúng sanh, là kho tàng vô tận của
Phật tử. Vì vậy người xuất gia luôn luôn nghiên cứu học hỏi Phật pháp. Lấy sự
nghiên cứu Tam tạng giáo điển làm việc cơ bản không câu nệ thời gian, tuổi tác,
hoàn cảnh, địa vị
d/ Triệt để hành trì giới luật: Người
xuất gia nhờ giới mà được vô lượng công đức pháp tài và trở thành tăng bảo
trong Phật pháp. Kinh dạy rằng: Giới luật là mạng mạch của tăng già, vi
phạm giới tức là tiêu diệt Phật pháp. Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, giữ
gìn giới luật tức là giữ gìn kho tàng của Phật pháp. Phật pháp có phát triển
hay không đều do người giữ giới và trì giới.
d/Chọn một pháp tu để làm chổ lập địa tu hành:
Trên
đường tu của người xuất gia phải đủ ba phần Giới, Định và Huệ. Ngoài sự nghiên
cứu kinh điển và hành trì giới luật, người xuất gia phải chọn cho mình một
trong những pháp môn Phật dạy để làm chổ lập địa, hằng ngày tu tập, điêu luyện
tâm tánh. Nếu không chọn lấy một pháp môn, hay chàn ràng với tất cả pháp môn,
thì đời mình sẽ hoang mang như người đứng giữa ngả tư đường, không khéo đời mình
sẽ bị lung lạc theo thời thế và hoàn cảnh. Nhất là trong thời mạc pháp
khó tu khó chứng, ma Phật chánh tà lộn xộn khó phân.
e/ Lấy câu như “ lửa cháy đầu ” làm châm ngôn tu
tập hằng ngày. Thân này vô thường mai còn tối mất. Bởi vậy sớm phải
lo tu, không chần chừ năm tháng, hứa hẹn ngày giờ, đánh tan ma lười biếng. Noi
gương người xưa, xem tất bóng như tấc vàng, một ngày không làm một ngày không
ăn.
Trụ trì phải có 4 đức tính:
1/
Tài: Học vấn nội điển rộng sâu chân chánh, có khả năng lãnh đạo và tổ chức tốt
các mặt lễ hội, có sức khỏe tốt.
2/Trí:
Có trình độ học vấn đạo đời rộng rãi thấu đáo, ứng xử nhanh nhẹn thấu tình đạt
lý.
3/
Phước: Có lòng thương tưởng giúp đỡ mọi người, thực hiện những công tác phúc
lợi cho bổn tự cho giáo hội và xã hội.
4/
Đức: Tinh tấn tu tập, khắc kỷ, khoan dung, không trục lợi ham danh, không thối
chí trước những trở ngại khó khăn.
Tóm
lại: Cái đức của trụ trì là: Lấy tài phục chúng, lấy đức cảm chúng, lấy tình lo
cho chúng, lấy Từ,Bi,Hỷ, Xả làm chính yếu lấy Dũng để thực hiện.
Trụ
trì có đủ: Tài, Đức, Trí,Phước để lãnh đạo, phục vụ, làm chổ nương tựa cho đời
và đạo, hoàn thành trách nhiệm tự lợi, lợi tha .
0 nhận xét:
Đăng nhận xét