Đạo Phật lấy thiện pháp làm pháp môn tu tập để đẩy lùi các ác pháp, nên đạo Phật có một nền đạo đức nhân bản. Nhân bản làm người được Đức Phật chú ý hàng đầu. Vì thế toàn bộ kinh sách Phật giáo đều lấy giới luật làm gốc để dạy người tu tập từ phàm phu đến thánh vị. Bởi vì con người cũng chỉ là một loài động vật, nhưng loài động vật cao cấp. Dù cao cấp đến đâu bản chất loài động vật vẫn còn. Muốn trở thành một con người thật là con người thì phải sống có đạo đức trọn vẹn, sống một đời sống hết sức thương người, thương vật như thương chính nình. Đạo đức làm người chưa đủ để giúp cho chúng ta thoát kiếp làm người đầy khổ đau. Vì vậy chúng ta phải tiến bước trên đường đầy đủ trọn vẹn đạo đức, cao hơn nữa để trở thành những bậc thánh vô lậu, làm chủ bốn sự sanh, già, bệnh, chết, và chấm dứt luân hồi. Đó là ước vọng của những người có cái nhìn thấy thế gian này khổ như thật, và biết pháp Phật là giới luật đạo đức cao qúy tuyệt vời, giúp con người mãn nguyện.
Cho nên những vị tăng ni cư sĩ xem
thường giới luật, luôn sống phạm giới, để chạy theo dục lạc thế gian, thì dù có
trăm ngàn kiếp cũng không hết khổ và ra khỏi khổ. Những người sống phạm giới, phá
giới thường đắm chìm trong dục lạc thế gian thì không bao giờ tìm thấy sự hỷ
lạc của giải thoát trong đạo Phật. Bởi vì đức Phật đã xác định “do ly dục sanh
hỷ lạc”. Còn vị nào xem thường giới luật thì dù cho có thiền định một ngàn năm
cũng chỉ lạc vào ma thiền chứ không bao giờ chứng được giải thoát chân thật.
Giới là một pháp môn vô lậu mà cũng là
pháp môn dạy về đạo đức tuyệt vời nhất. Giới làm người làm thánh một cách rõ
ràng và cụ thể.
Giới cũng là một pháp môn để chuẩn bị cho
hành giả các loại chánh định. Nếu không tu giới thì không bao giờ nhập chánh
định được. Không nhập chánh định được mà nói nhập định là nói vọng ngữ, là lừa
đảo người khác, bởi chánh định là loại thiền định không dành cho những người
phạm giới,phá giới, bẻ vụn giới...
Người muốn giữ gìn giới luật mà không
biết hổ thẹn (xấu hổ) thì không bao giờ gìn giữ giới luật được, cũng giống như
người muốn tu thiện pháp mà không biết xấu hổ thì không bao giờ tu tập thiện
pháp được.
Người muốn gìn giữ đức hạnh làm người,
làm thánh mà không biết xấu hổ thì không bao giờ gìn giữ đức hạnh được, cũng
như thế người muốn tu hành giải thoát mà không biết hổ thẹn thì không bao giờ
có giải thoát được, chỉ có pháp ngoại đạo mới không hết xấu hổ.
Có trì giới có giữ giới thì biết xấu
hổ. Tu tập đức tính biết hổ thẹn là một hành động cao quý tốt đẹp của loài
người, mà các loài khác không có. Nhờ biết xấu hổ mà con người không làm điều
ác, tăng trưởng đều thiện khiến cho mình có hạnh phúc an vui, và những người
chung quanh cũng có hạnh phúc an vui. Người có hổ thẹn, không ganh tỵ, đố kỵ,
phân bua, biết tôn ty thượng hạ, biết phận mình nên ở đâu, ngồi đâu trong hội
chúng v.v...
Người tu sĩ cũng như cư sĩ ai cũng
biết cuộc đời là khổ, thế nhưng họ không muốn buông bỏ. Đến lúc nào đó dù muốn
dù không chúng ta cũng phải buông bỏ để đi vào cõi chết với hai bàn tay không.
Con người chết đi thân ngũ uẩn tan hoại hết, không còn tồn tại một vật gì.
Nhưng vì cuộc sống hằng ngày luôn tạo thiện hay ác, do hành động tạo thiện ác
đó đã trở thành nghiệp lực tham, sân, si, mạn, nghi. Nghiệp lực tham, sân, si
tiếp tục tương ứng với tham, sân, si của mọi người và mọi loài vật mà tái sanh
luân hồi.
Người tu học mà không chịu buông bỏ,
tích chứa thêm vật chất và những tiện nghi như những người giàu có và còn ham
vui và hưởng thụ, tiêu khiển như người thế tục. Đi tu như vậy làm phí tổn thời
gian và tiền của lại hao mòn công đức. Trường hợp như vậy là không biết tiết
thời gian, họ có biết đâu thân người ai cũng sẽ sắp tàn đến nơi, thời gian con
người có hạn, mà không biết lo, không biết chuẩn bị. Phật dạy thân người khó
được mà có mấy ai để ý.
Sau khi chết rồi, dễ gì sanh lại được
làm thân người. Rơi vào ba đường ác là điều chắc chắn. Bởi vì tiêu chuẩn được
trở lại làm người cũng rất khó, phải hội đủ năm tiêu chuẩn:
1/ Hiếu sinh 2/ Buông xả 3/ Chung thủy
4/ Thành thật
5/ Sáng suốt minh mẫn.
Hiện giờ con người trong xã hội có mấy
ai hội đủ năm tiêu chuẩn này hởi các bạn?
Vì thế những người chúng ta hay gặp
hằng ngày đều là từ các loài thú đã trải qua nhiều kiếp làm thú vật để trả nợ
nhân quả, vì thế họ đã huân tập nhiều ác nghiệp, hung dữ. Đến khi họ được sanh
làm người thì bản chất loài thú vật vẫn còn nguyên. Cho nên con người hiện giờ
rất tham lam, độc ác. Xét cho cùng, một con người chết đi sanh trở lại làm
người thì phải trải qua làm thân chúng sanh vô lượng kiếp. Do vậy Phật bảo rằng
làm thân người quá khó là vậy.
Nhờ tu tập theo thiện pháp, ngăn và
diệt ác pháp, chúng ta trở thành con người thật người. Từ con người thật người
khi chết đi chúng ta tiếp tục sanh làm người ngay hiền. Vì chúng ta không vay
nợ máu xương của loài động vật. Do đó nhân quả không có, cho nên một con người
thật thì sinh ra không ăn thịt, không tham lam, không trộm cắp, không tà dâm,
vọng ngữ, rượu chè say sưa. Những người như vậy dễ dàng trở thành bậc thánh A
La Hán.
Hiện giờ chúng ta thấy người sinh ra
rất nhiều nhưng thật là người rất là ít có. Được thân người còn mang bản chất
loài thú vật đã khó khăn vô cùng, phải trải qua vô lượng kiếp làm chúng sanh,
huống là được thân người thật người còn khó hơn.
Bởi vậy muốn được thân người thật là
người thì ngay bây giờ hãy bắt đầu tập sống cho đúng năm điều thiện ở trên. Nhờ
sống đúng năm điều thiện này các bạn không bao giờ làm thân chúng sanh nữa.
Được thân người là khó, mà lại gặp thiện tri thức càng khó
hơn. Trong thời đại nào cũng vậy, ác tri thức thì đâu cũng có mà lại nhiều, còn
thiện tri thức dù có thắp đuốc đi suốt ngày đêm tìm cũng rất khó. Thường chúng
ta gặp chỉ là những người kiến giải trong sách, chứ chưa có ai tu chứng, lấy sự
học làm thầy, chỉ giỏi về khoa ngôn ngữ nhưng thành tựu đạo giải thoát thì chưa
có ai. Vì vậy Phật dạy gặp được bậc thiện tri thức là khó.
Thế nào là bậc thiện tri thức, trong Phật
giáo đó là bậc đã tu chứng:
1/ Chứng giới
luật 2/ Chứng thiền định 3/ Chứng tuệ tam minh.
Những
bậc chứng đủ 3 thứ ấy mới là bậc thầy của chúng ta, là thiện tri thức. Những
bậc này trong đời khó tìm nên Phật bảo là khó gặp.
Bị vô minh ngăn che, bị tham ái trói buộc, các loài
hữu tình thích thú chỗ này, chỗ kia như vậy, tái sanh trong tương lai sẽ xảy
ra.
Vô minh được xả ly, minh khởi tham ái được đoạn diệt
(ly dục ly ác pháp) . Như vậy tái sanh trong tương lai sẽ không xảy ra.
(Tăng Nhất A-Hàm)
Do không thấy không hiểu biết mọi sự vật như thật nên sanh ra tham ái,
dính mắc, chấp chặt không buông bỏ. Vô minh là sự hiểu biết trong góc độ ái
dục, tưởng dục. Khi vượt ra ngoài ái dục, tưởng dục, thì sự thấy và hiểu biết
đó là “minh”. Khi nói đến vô minh thì phải nói đến minh.
Minh có nghĩa là vượt ra ngoài ái dục,
thì sự thấy và hiểu biết là minh.
Minh là trí tuệ hiểu bết không bị ái
dục, tưởng dục chi phối nên thấy và hiểu biết mọi sự như thật, không bị dục
ngăn che. Cho nên khi nào tâm hết dục thì ta mới có minh.
Tóm lại, vô minh gọi là sự hiểu biết của
dục tri, tưởng tri, còn minh gọi là sự hiểu biết của liễu tri, thắng tri, trực
tri, chánh tri.
Bát chánh đạo dạy chúng ta “minh”.
Từ xưa đến nay ông bà tổ tiên chúng ta
dạy ta và tất cả mọi người về sự hiểu biết thường tục, gọi là kiến thức, nhưng
kiến thức ấy luôn luôn mang đầy những ái dục tri, ái dục tưởng tri. Đạo Phật ra
đời dạy chúng ta các hiểu biết khác, cái hiểu biết ly dục tri, ly dục tưởng tri
và ly ác pháp. Do đó, chúng ta mới có cơ hội thoát khổ, tâm không còn tham,
sân, si, phiền não. Khổ đau như trước nữa. Cho nên kinh nói: Vui thay Phật ra
đời. Phật ra đời luôn đem lại hạnh phúc cho mọi người và mọi loài trên hành
tinh sống này. Nhưng ít có ai hiểu biết đúng như vậy, tất cả mọi người đang
sống trong mộng ảo, ảo tưởng mơ hồ của thế tục, của tôn giáo của các triết
học.v.v...
Đâu có vô minh thì ở đó có minh, ở đâu
có minh thì ở đó không có vô minh. Minh là bờ bên này, vô minh là bờ bên kia.
Bên này là khổ đau bên kia là giải thoát.
ô ô ô
Muốn tu tập thiền định của Phật Giáo
là phải tu tập giới luật. Tu tập giới luật là có giải thoát ngay liền. Tu tập
giới luật là tu tập đạo đức làm người, làm thánh. Tu tập giới luật là xây dựng
cho mình một cảnh giới cực lạc. Thiên đàng ngay tại thế gian, tu tập giới luật
là tu tập giúp cho thân tâm luôn luôn thanh thản, an lạc và vô sự, tu tập giới
luật là tu tập tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ. Một trạng thái niết
bàn thật sự hiện tiền mà mọi người không ai ngờ được
ô ô ô
Mục tiêu tu tập của người học Phật là
phải đạt cho được nhất tâm. Vậy nhất tâm là gì ?
Nhất tâm là “tâm ly dục, ly ác pháp” chứ
không phải nhất tâm là tâm “không vọng tưởng, tâm không niệm thiện, niệm ác”. Tâm
ly dục ly ác pháp là tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ, cho nên Đức Phật
gọi là “bất động tâm định”.
Bốn niệm xứ là một phương pháp tu căn
bản của Phật giáo tu tập trên bốn chỗ của thân ngũ uẩn là: Thân, thọ, tâm, pháp
để được ý thức ly dục, ly bất thiện pháp, tức là ý thức không phóng dật (không
khởi niệm).
Tại sao gọi “bốn niệm xứ là định
tưởng” khi mới bước chân vào tu tập bốn niệm xứ thì phải tu tập mười sáu loại
tưởng. Nhờ tu tập mười sáu loại tưởng nên tâm mới sanh ra nhàm chán các pháp
thế gian. Vì thấu suốt lý các pháp là vô thường khổ, vô ngã, bất tịnh, uế trược
do, quy luật nhân quả duyên hợp tạo thành chẳng có gì là tu, là của ta, là bản
ngã của ta. Do ý nghĩa này mà bốn niệm xứ là Định Tưởng.
Kế đến phải tu bốn tinh cần, Bốn tinh
cần là tên khác của Tứ Chánh cần. Tứ chánh cần là một phương pháp tu tập dùng ý
thức ngăn ác và diệt ác pháp, sanh thiện và tăng trưởng thiện pháp. Do tu tập
Tứ chánh cần mà mọi mới giữ được trọn vẹn giới luât. Và không bao giờ vi phạm
giới luật. Do tu tập Tứ chánh cần mà tâm hồn được thanh thản an lạc và vô sự.
Do tu tập Tứ chánh cần mà cuộc sống gia đình an vui hạnh phúc, xã hội yên bình,
ổn định được an ninh trật tự.
Bốn tinh cần còn được gọi là Định Tư Cụ. Vì do pháp tu nầy làm cho giới
luật thanh tịnh vì giới luật thanh tịnh là tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh là
tâm định, nên đức Phật dạy “Do giới sanh định” là vậy.
Muốn có thiền định thì cần tu tập giới luật cho thanh tịnh. Giới luật
thanh tịnh tức là tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh là tâm ly dục, ly ác pháp. Tâm
ly dục ly ác pháp thì ngay nơi đó là thiền định, nên Phật dạy “Ly dục ly ác
pháp nhập sơ thiền”.
Ở đây chúng ta thấy rõ thiền định của đạo Phật là thiền định từ giới
luật sinh ra. Nó không giống bất cứ loại thiền nào của các pháp khác. Nếu loại
thiền định nào mà không lấy giới luật làm tiêu chuẩn, không sống đúng phạm
hạnh, thường phạm giới, phá giới mà bảo là thiền định của Phật giáo thì ta đừng
tin.
ô ô ô
KHAI THỊ GIỚI
TỬ
Nầy các
vị giới tử, các vị lắng nghe và suy nghĩ. Tại sao các vị phát tâm vào chùa? Ở
thế gian đầy dẫy sự vui thú, đầy dẫy dục lạc, có đầy đủ tình thương của cha mẹ,
anh em, vợ chồng, con cái, bè bạn, họ hàng làng xóm,những người thân thích. Tại
sao quý vị không ở tại nhà mà vui hưởng lại đến với chùa chịu sự gò bó nóng
nực, chật hẹp, ăn cơm chay uống nước dảo, phải chịu sự tù túng như vậy? Quý vị
không phải là người lánh nợ, không phải là người nghèo thiếu, không phải là
người cô đơn, nên phải vào chùa tìm chút an vui qua ngày.
Quý vị không phải là những người có lý do đó. Nhưng mà đây là cơ duyên
tốt của quý vị đã có. Quý vị đến với chùa là cơ duyên tốt để làm mới cuộc đời,
để tiếp cận với sự mầu nhiệm của cuộc sống, để tập học hạnh thanh tịnh. Nhưng
quý vị có cùng chung một điểm duy nhất đó là đã nhận thức được cuộc đời là vô
thường, là sanh diệt, là hư ảo, là đau khổ triền miên sanh, già, bệnh chết là
những cửa ải ai cũng phải qua. Đến với đạo Phật để tập sống tự tại, để vượt qua
bốn cửa ải sanh già bệnh chết, và đến với đạo Phật tìm lại cái chân thật trường
tồn an lạc giải thoát, với tâm chân như sẵn có đã từ lâu ta đã lãng quên, đã vô
tình để bụi trần che lấp. Vì thế quý vị không ngại tạm bỏ những thú vui ở đời
mà đến với đạo, cầu mong thành tựu niết bàn tịch tịnh. Như quý vị bổn sư mỗi
khi truyền giới đều có lời ca ngợi giới tử rằng:
Thiện tai đại trượng phu
Năng liễu thế vô thường
Xả tục thú nê hoàn
Hy hữu nan tư nghì
Khí hình thủ chí tiết
Cát ái từ sở thân
Xuất gia hoằng Phật đạo
Thệ độ nhất thiết nhân.
“Lành thay đại trượng phu
Hay rõ đời vô thường
Xả tục vui niết bàn
Thật hy hữu vô cùng
Bỏ thân hình giữ khí tiết
Bỏ ái xa người thân
Xuất gia hoằng Phật đạo
Thệ độ khắp chúng sanh”.
Khi đã nhận thức như thế rồi chúng ta nên xả
bỏ những tập tính quan niệm quê hèn, những tục tính của thế gian lâu nay nó đã
làm cho ta khổ sở cả tâm thức lẫn thể xác. Chúng ta hãy dũng mãnh tinh tấn để
cần cầu giáo pháp. Không để cô phụ chí nguyện của ta lúc ban đầu. Chúng ta suy
nghĩ giả sử chúng ta cứ ôm ấp mãi những tâm niệm cũ kỹ quê hèn trái ngược với
con đường tu tập, như thế nó sẽ có lợi ích gì? Bao kiếp ta đã từng vào ra đường
sanh nẻo tử, khi thì vào thai lừa bụng chó, lúc làm ngạ quỷ súc sanh, đã chịu
biết bao khổ não thăng trầm, may mắn thay kiếp này có duyên lành được làm thân
người, lai được gặp Phật pháp phát tâm tu học. Bây giờ là lúc tốt nhất để ta có
điều kiện thoát khỏi con đường khổ. Nếu lúc nầy, chúng ta không tinh tấn dũng
mãnh phát đại tâm quét sạch những tàn dư phiền não để cầu Phật đạo thì còn đợi
đến bao giờ. Bởi vậy giờ đây tôi gợi ý để quý vị tự rà soát lại tâm mình, tự
xoay cái trí quang mà xét nơi tâm mình để quét sạch hết phiền não. Mê nhất kiếp
ngộ nhất thời, từ lâu vì mê lầm nên chạy theo những hư ảo thế gian mà không hề
tự hay biết. Nay dùng trí tuệ quang Phật pháp soi lại ta như ngôi nhà từ lâu
kiếp đã chìm trong bóng tối nay dùng đèn trí tuệ soi vào thì bao nhiêu tăm tối
thảy đều tiêu sạch.
Chúng ta nên biết rằng, giáo pháp của
Như Lai vô cùng cao quý, chính đức Như Lai đã nhiều đời nhiều kiếp đã xả bỏ
thân mạng đầu mắt tay chân quốc thành thê tử để đi tìm con đường chân lý tu
hành mới thành Phật. Nay ta may mắn tiếp nhận được con đường ngài đã vạch ra,
chúng ta không sợ lầm đường lạc lối nữa. Quê xưa ta đã biết mà không chịu đi về
để mãi mãi lạc lõng ở viễn xứ tha phương. Quý vị đã có phước duyên rồi hãy nên
trân trọng hãy nên gìn giữ, đừng thờ ơ để lỡ mất cơ hội sau nầy tìm lại không
được, thì thiệt thòi rất lớn.Một khi đã mất khó gặp lại, vì thế mong rằng quý
vị phát tâm trân trọng dũng mãnh để cầu học tập giáo pháp đức Như Lai.
Giới có công năng ngăn ác phát thiện,
cho nên khi đã lãnh thọ giới pháp rồi phải cố gắng mà bảo trì, người tu học gặp
được giáo pháp thì ví như kẻ nghèo gặp được của báu, qua sông gặp đò, kẻ tù
được thả, kẻ đi xa được về nhà, kẻ bệnh ngặc nghèo gặp thuốc hay. Cho nên phải
cố gắng nghiên tập giáo pháp.
Chúng ta biết rằng, ở thế gian, nhà
thì có gia quy, trường có nội quy, nước thì có quốc pháp, quân đội có quân quy.
Đâu có quy luật nghiêm minh thì nới đó an ninh trật tự. Có công bằng có tiến
bộ. Là Phật tử không thể không tuân thủ tịnh giới được sao? Nếu sống buông thả
như voi không xích, ngựa không cương, trâu không dây thẹo, thì không làm sao
tránh khỏi hố sâu vực thẳm, đau khổ sẽ xảy ra cho ta và mọi người không thể
lường được.
Chúng ta may mắn sinh ra được làm
người sáu căn đầy đủ, đã ra khỏi ba đường ác, lại được gặp Phật pháp là một sự
hạnh phúc vô cùng, lại tập sống nếp sống viễn ly sinh tử là một phước duyên vô
cùng to lớn. Quý vị đã tạm gác bỏ hạnh phúc thế gian tạm bợ để tìm đến hạnh
phúc chân thật nuôi dưỡng tâm Bồ đề. Với sự tu tập chuyên cần tạo nên năng
lượng nuôi lớn tâm Bồ đề. Tâm Bồ đề được duy trì liên tục, được phát triển
mạnh, nó sẽ tạo nên nguồn năng lượng vững chắc để ngăn chặn những trở lực của
ngoại duyên, và nó có khả năng tháo gỡ những khổ đau, khúc mắc của nội tâm, nó
sẽ hóa giải những cặn bả từng tồn đọng trong tâm thức hành giả. Nếu chúng ta cứ
để bận bịu không chịu chăm sóc trông nom cái tâm Bồ đề sẽ khô héo và khuyết
mòn. Lúc đó ta sống cảm thấy không hạnh phúc cũng có nghĩa là ta cũng sống như
mọi người, cũng ăn uống đi lại nhưng trên thực chất thì ta đã chết, chết với tư
cách một người bại trận. Bởi vì khi ta quyết định đi trên con đường ra khỏi
sanh tử thì ta phải trang bị cho mình một thứ vũ khí cần thiết để đương đầu với
chiến trận ma quân phiền não - Người tu học như một chiến sĩ chiến đấu với muôn
người, mang áo giáp ra trận với cung tên, cùng chiến mã, nhưng khiếp nhược lui
trở về là người bại trận, hoặc chiến đấu đến chết, hoặc chiến thắng trở về.
Cũng vậy, người tu chúng ta cũng thế
chiến đấu với muôn ngàn tật xấu, thói hư nó đã ăn sâu vào trong tâm thức chúng
ta từ vô thủy đến nay. Chiến đấu tất phải có vũ khí, vũ khí của người tu học là
Giới - Định - Huệ. Giới như áo giáp - Định như chiến mã - Huệ như cung tên. Ba
thứ ấy có đủ ta mới tiến sâu vào lòng giặc, mới trừ bọn giặc vô minh. Người tu
là chiến sĩ lúc nào cũng phải biết tự vệ
cũng sẳn sàng chiến đấu./.
b ] a
0 nhận xét:
Đăng nhận xét