SƠ LƯỢC LỊCH SỬ TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA
Bồ Đề Đạ Ma Tổ thứ 28
bên Ấn Độ. Ngài ra đời vào cuối thế kỷ thứ 5 sau khi đức Thế Tôn nhập diệt.
Ngài thuộc về dòng dõi hoàng phái. Vua cha tên là Hương Chí, con thứ ba trong
hoàng tộc. Sanh tại miền Nam Thiên Trúc, lúc nhỏ rất thông minh, có lòng kính
trọng các bậc tôn trưởng và thương yêu mọi người. Tuy sanh trong gia đình cao
sang quyền quý, nhưng Ngài không mê đắm ngũ dục lạc ở đời. Vua cha định cưới
công chúa cho Ngài để hưởng cảnh vương giả như hai người anh của Ngài, nhưng Ngài
từ chối.
Do căn lành đã trồng
trong nhiều đời, Ngài từ chối duyên trần, để tìm đường giải thoát. Ngài thường
theo phụ vương nghe các vị giảng sư thuyết đạo. Một hôm Tổ sư Bát Nhã Đa La vào
vương cung thuyết pháp. Vua Hương Chí đem viên ngọc Bảo châu dâng cúng tổ Bát
Nhã, tỏ lòng sùng kính. Trong lúc ấy có ba vị vương tử cùng theo. Tổ Bát Nhã
liền hỏi ba vị hoàng tử rằng: “ Ở đời có thứ gì quý báu bằng hòn ngọc này không
? ” Hai vị vương tử đồng đáp rằng; Thưa Tổ sư trên đời này không vật gì quý
bằng ngọc Bảo châu này. Vương tử đệ tam đáp: Bạch tổ sư: theo ý con thì viên
ngọc Bảo châu này theo thế gian thì quý thật, nhưng đối với đạo Bồ đề thì chưa
bì kịp phần nào cả. Duy chỉ có pháp bảo của nhà Phật mới là quý báu, vì pháp
bảo mới đưa con người đến an lạc và giải thoát.
Tổ Bát Nhã lại hỏi tiếp:
Trong các loài, loài nào lớn nhất ?
Đệ tam vương tử đáp: Bạch Tổ sư: Chỉ có Phật tánh là lớn
nhất, vì Phật tánh bao gồm cả trong và ngoài vũ trụ vậy.
Qua hai câu trả lời
của đệ tam vương tử là Bồ Đề Đa La. Tổ sư Bát Nhã nhận biết Ngài có căn lành
trong nhiều đời nhiều kiếp. Ngày sau sẽ xuất gia tu đạo giác ngộ chứng được
Phật tánh. Nhưng lúc ấy thời cơ xuất gia của vương tử Bồ Đề Đa La chưa đến nên
Tổ sư không đem chuyện xuất gia mà giảng nói.
Không bao lâu vua
Hương Chí băng hà, việc triều chính có hai vương huynh lo sắp đặt. Lúc ấy nhơn
duyên xuất gia của Ngài đã đến, chí xuất trần của Ngài lớn mạnh, nên Ngài liền
đến bạch với Tổ Bát Nhã cầu xin xuất gia tu đạo. Nguyên Ngài tên là Bồ Đề Đa
La, được nhân duyên xuất gia với Tổ Bát Nhã Đa La. Tổ thấy Ngài căn tánh thông
lợi và Ngài nhận được bản thể của các pháp nên đổi lại hai chữ sau tên Ngài là
Bồ Đề Đạt Ma.
Sau khi xuất gia
thọ giới rồi, Bồ Đề Đạt Ma bạch với Tổ sư Bát Nhã rằng: Bạch Tổ sư, con đã xuất
gia và đắc pháp rồi. Vậy con phải đi hoằng pháp lợi sanh ở xứ nào ?
Trước khi thị tịch Tổ
Bát Nhã có mấy lời chỉ giáo cho Bồ Đề Đạt Ma. Ngài dạy: Ở Tây độ ông là vị tổ
cuối cùng. Đạo Phật ở đây đến thời kỳ suy vi. Vậy ông nên hiểu vận mạng đạo pháp của ta, khi cơ duyên đến ông nên ra
hải ngoại để truyền bá đạo pháp, ông có nhân duyên với các hạng đại căn ở Đông
độ, vậy nên chuẩn bị sang đó để truyền đạo.
Lúc đến nơi ông
không nên hoằng hóa ở miền nam, mà hãy lên miền bắc Đông độ, thì công việc
hoằng góa độ sanh mới được kết quả mỹ mãn.
Công việc độ sanh
và lời chỉ giáo đã xong. Tổ Bát Nhã thâu thần nhập diệt. Bồ Đề Đạt Ma kế tổ
khai hóa quần sanh ở Tây thiên trúc thời gian ngót 60 năm. Thời tiết nhân duyên
đã đến, Ngài quyết định sang Trung Hoa hoằng hóa đạo pháp. Ngài vượt biển ra
khơi trãi qua ba năm trường dầm mưa dãi nắng thuyền mới đến Quảng Châu Trung
Quốc, lúc bấy giờ là triều Vương vua Võ Đế.
Hay tin Tổ Bồ Đề
Đạt Ma đến thị trấn Quảng Châu, quan thứ sử là Tiêu Ngang, liền ra lệnh trang
hoàng để nghinh tiếp Ngài. Rồi dâng sớ tâu vua Lương Võ Đế hay, vua Võ Đế hay
tin liền sai sứ thần đến thỉnh Ngài về Kim Lăng.
Sau khi tiếp kiến,
vua mới hỏi về đạo lý nhà Phật vua bạch rằng:
Từ khi tôi làm vua
đến nay, kiến lập nhiều cảnh chùa, tạo nhiều tượng Phật, xây tháp, đúc chuông,
in kinh và độ tăng rất nhiều không thể kể hết như thế có được công đức không ?
có giải thoát thành phật không ?
Bồ Đề Đạt Ma đáp:
Không có công đức chi hết, mà cũng không thể giải thoát thành Phật được.
Vua hỏi: Tại sao
không có công đức và cũng không giải thoát thành Phật ? Tôi nghi quá ?
Tổ Bồ Đề Đạt Ma đáp: Làm như thế thì chỉ hưởng phước báo nhơn
thiên, hay là tiểu quả trong tam giới mà thôi, vì đó còn thuộc về cái nhân hữu
lậu, cũng như bóng theo hình, như vang theo tiếng, tuy có mà không thật.
Làm thế nào mới
được chân thật công đức. Muốn được công đức chân thật và giải thoát thành Phật,
thì trí huệ phải thanh tịnh, sáng suốt, huệ nghiệp phải tiến tu dõng mãnh.
Nói tóm lại, là
phải thể nhập chơn tánh, tu huệ thật nhiều, việc cất chùa xây tháp, tạc tượng,
đúc chuông v.v.. đó chỉ là hưởng phước trong một thời gian mà thôi. Muốn được đạo quả giải thoát là phải minh tâm kiến
tánh mới được. Công đức này không thể lấy thế pháp mà cầu được.
Tổ lại giảng thêm
cho vua nghe ở ngoài tâm không có Phật, muốn tìm Phật phải tìm nơi tâm mới có.
Niết bàn và đại ngộ cho là việc ngoài tâm đó là lầm to vậy. Ngoài sự thật của
cái tâm, mọi vật đều là giả dối không thật. Duy chỉ có bản tánh sáng suốt là cao
quý thôi. Khi tư tưởng ngừng nghĩ yên tịnh ấy là Niết bàn.
Mỗi người đều thấy
Phật và tưởng Phật trong tâm mình, còn mơ tưởng một vị Phật nào ở ngoài tâm,
cho mình thấy ở một chổ nào ấy là điên
đảo vậy. Vì thế cho nên không phải ngó ra ngoài, mà hướng vào trong, Mỗi người
đều có Phật, mà muốn cho được thành Phật thì phải nhận biết cái chơn lý chỉ là
một ở trong tâm mà thôi.
Vua Lương Võ Đế
nghe những lời Tổ sư nói trên không lãnh hội được ý chỉ cao sâu, huyền diệu. Do
đó, nên vua đối đãi với Ngài hết sức lợt lạc và cho rằng Tổ sư tu khác đạo.
Cơ duyên truyền đạo
chưa đến nên Ngài phải ẩn thân một thời gian, đợi thời tiết thuận tiện sẽ
truyền bá đạo pháp của chư Phật.
Sau khi vua Lương Võ
Đế không lãnh hội được tôn ý của tổ sư, Ngài mới sang qua Giang Bắc, tới Lạc
Dương thuộc tỉnh Hà Nam. Ngài ở ẩn chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn. Trong 9
năm ngồi im lặng xoay mặt vào vách.
Lúc đầu đa số
người nghe không hiểu nổi ý ngài muốn nói gì, nhưng rất may mắn có những vị
thông hiểu được tôn ý của Ngài và trở thành những vị đệ tử thượng túc, đem
những ý ấy giảng giải thêm ra để phổ cập khắp chốn cùng nơi.
Tổ Bồ Đề Đạt Ma có
bốn vị đệ tử thượng túc. Bốn vị đều có đặc tài, mỗi vị giỏi một cách để trợ hóa
Ngài và làm lợi ích quần sanh.
1/ Vị thứ nhất có đặc tài về cách truyền giáo cho hạng người
bình thường, cho mọi người hiểu đạo một cách dễ dàng, y cứ theo đó mà dần dần
tu tập gọi là “ truyền giáo ngoài da ”.
2/ Vị thứ hai, giảng dạy những đạo lý khá sâu rộng khiến mọi
người đi sâu về phương diện phước huệ song tu, để đạt đến quả vị A La Hán, pháp
dạy này gọi là “ truyền giáo vào thịt ”
3/ Vị thứ ba, có tài sâu sắc hơn, dạy đức tánh từ bi, thường
giảng sâu về đạo lý vô thường và khuyên mọi người phải tịnh tu ba nghiệp,
phương pháp này gọi là “ truyền đạo vào xương ”.
4/ Vị thứ tư, tài đức song toàn, Ngài này đặc biệt và thù
thắng hơn ba vị trước. Ngài đem giáo lý tối thượng thừa mà giáo hóa cho bậc đại
căn cơ, ngộ đạo thành Phật, phương pháp này gọi là “ truyền đạo vào tủy ”.
( bốn trình độ thọ nhận
giáo pháp, tương đương với bốn căn cơ từ thấp đến cao: Căn cơ nhơn thừa, căn cơ
thanh văn, căn cơ Bồ Tát, căn cơ Phật thừa, ) ( Phàm phu, Thanh văn, duyên
giác, Bồ tát ) Trong thời gian hóa độ ở
Trung Quốc, có một vị chân thành tìm đến cầu đạo nơi Ngài tên là Thần Quang.
Ông này đã từng xem qua kinh, luật, luận của đạo Phật, Ngài than rằng đạo lý
của Khổng Tử và Mạnh Tử thì dạy về phong hóa, lễ nghi, còn tư tưởng của Trang
Chu và kinh dịch cũng chưa xiển minh được chổ diệu lý. Nghe nói có Tổ sư Bồ Đề
Đạt Ma vốn là bậc tu hành đắc đạo, vậy ta đến đó thỉnh cầu ngài chỉ giáo cho
những nghĩa lý cao siêu huyền diệu của đạo.
Ngài Thần Quang bèn
quyết đến bái kiến tổ sư Đạt Ma để học hỏi giáo lý cao thượng, nhưng đến chùa
Thiếu Lâm thì Tổ Đạt Ma đang ngồi xoay mặt vào vách không nói một lời gì với ai
cả. Thấy thế Ngài Thần Quang suy nghĩ “ Ta muốn thể nhận đạo lý thì phải gian
lao cực khổ mới được ”. Các tổ ngày xưa tận tâm cầu đạo, đến đổi lột da làm
giấy, chẻ xương làm viết, chích máu làm mực, để chép kinh sách v.v Các ngài cương quyết làm, để cầu cho được đạo
quả vô thượng. Nếu không noi gương các Ngài thì đạo quả sao nên.
Ngài quyết chí thi
hành bản nguyện, lúc ấy tiết trời mùa đông lạnh lẽo, tuyết rơi quá nhiều, nhưng
ngài đã quyết định, nhất tâm chánh niệm vững vàng. Ngài đứng trước sân hầu hạ
suốt đêm, tuyết xuống ngập cả bàn chân của Ngài, mặc dù thế nhưng tinh thần của
Ngài vẫn sáng suốt và an vui.
Tổ Bồ Đề Đạt Ma nhận
thấy Ngài quá chí thành cầu đạo nên liền hỏi rằng: Ngươi cầu việc gì ? và muốn
tìm hỏi gì ? mà đứng mấy canh thâu lạnh lẽo đến thế ?
Thần Quang cung
kính thưa: Kính đức Tổ, Ngưỡng mong Tổ sư từ bi truyền trao lý đạo và cứu độ
chúng con.
Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói:
“ Đạo lý cao siêu ai muốn cầu cho được là phải chuyên tâm nhất trí và nhờ đạo
lực tu trong nhiều đời nhiều kiếp. “ nan hành năng hành ” mới nhiệt tâm vì đạo. Nếu đem tâm nhỏ hẹp,
đức tánh tầm thường mà cầu đạo vô thượng thì khó mà thành tựu viên mãn.
Ngài Thần Quang nghe
Tổ sư chỉ dạy những lời chân chánh và thống thiết, tự nghĩ “ sự phát tâm của mình chưa được cao thượng,
Thần Quang dùng thanh đao bén chặt một cánh tay bên trái, rồi dâng cánh tay ấy
trước mặt Tổ sư, để tỏ lòng tha thiết cầu đạo lý vô thượng.
Trước sự thành khẩn
cầu đạo của Thần Quang. Tổ Bồ Đề Đạt Ma nhận biết là bậc người pháp khí. Tổ sư
nói: “ Ngươi vì đạo quên mình, chặt tay cầu đạo, buông bỏ thân mạng, tôn chuộng
chánh đạo ”. Tổ sư biết thời cơ đã đến, liền đổi tên Thần Quang là Huệ Khả.
Được Tổ sư ban cho tên là Huệ Khả, Thần Quang rất hài lòng, và bạch với Tổ sư.
Pháp ấn của chư Phật truyền trao con có thể nghe được không ?
Bồ Đề Đạt Ma nói:
Pháp ấn của chư Phật không phải do người mà đặng Vậy hôm nay nhà ngươi cầu pháp
gì ?
Huệ khả đáp: Bạch Tổ
sư Tâm con chưa an, nhờ Tổ sư truyền trao cho con pháp AN TÂM
Người hãy mau mau
đem tâm đến đây ta an cho.
Trong giây lâu Huệ
Khả thưa: “ Mích tâm liễu bất khả đắc ”.
Con tìm tâm mãi mà không thể được, bạch Tổ sư.
Bồ Đề Đạt Ma nói: Như
thế là ta đã “ AN TÂM ” cho ngươi rồi đấy.
Vài hôm sau,Tổ Bồ Đề Đạt Ma lại kêu Ngài Huệ Khả và tất cả môn nhơn mà
chỉ hạnh đại thừa nhập đạo như sau:
1/ Lý nhập đạo – 2/
Hạnh nhập đạo
Lý nhập, nghĩa là nhờ
giáo lý mà ngộ được tâm tông, nên tin chắc cái lý chúng sanh với chư Phật đồng
một thể như nhau.
Hạnh nhập nghĩa là
nhớ rõ các hạnh mà được tâm tông.
1/ Báo oán hạnh 2/ Tùy
duyên hạnh 3/ Vô sở cầu hạnh 4/ Xứng pháp hạnh.
Do các hạnh này mà
nhập đạo dễ dàng, trong kinh nói: “ Các pháp do nhân duyên mà sanh ra, chứ kỳ
thật không có tự tánh ”
Bậc thượng căn hiểu
được lý này xứng pháp mà làm, dù đem hết thân mạng và tài sản ra làm việc bố
thí tu phước cũng không tiếc, miễn đạt được diệu hành “ tự lợi lợi tha ” mà
thôi.
Khi gần thị tịch
Ngài triệu tập tứ chúng lại hỏi đạo “ các ông theo ta học đạo rất lâu vậy có
chỗ sở đắc gì nói cho ta nghe thử ?
Ông Đạo phó thưa.
Bạch Tổ sư, theo chổ con hiểu thì chẳng lập văn tự và chẳng lìa văn tự đó là
đạo lý trung dung.
Tổ sư nói, như vậy
thì ngươi mới được phần da của đạo mà thôi.
Vị Ni Tổng Trì thưa.
Theo chổ con nhận định như Ngài Khánh Hỷ, chỉ thấy cõi nước A Súc có một lần,
không thể thấy lần thứ hai nữa.
Tổ sư nói, như vậy,
ngươi chỉ mới được phần thịt của đạo mà thôi.
Ông Đạo Dục thưa.
Bạch tổ sư: Tứ đại vốn không, ngũ ấm chẳng có, chổ thấy của con là không có một
pháp gì có thể đạt được như thế là Đạo vậy.
Tổ sư lại nói rằng:
Ngươi đặng phần xương của Đạo vậy
Ba vị trên dùng ngôn
ngữ để diễn tả đạo lý nên chưa đúng đạo. Đến lần Huệ Khả ra, Ngài đứng một chổ
yên lặng, không nói một tiếng nào cả.
Tổ sư ấn khả rằng: “
Được như vậy, ngươi đặng phần cốt tủy của Đạo vậy ( Đạo vốn vô ngôn, ngôn sanh
ý tán )
Thời gian đã đến,
duyên sắp mãn, nên tổ sư định truyền y bát cho ngài Huệ Khả, để tiếp nối đạo
mầu trong tương lai.
Lúc bấy giờ, Tổ Bồ Đề
Đạt Ma hướng về chổ Ngài Huệ Khả mà bảo rằng:
“ Trước kia đức Thích Ca Thế Tôn dùng “ Chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn
diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, truyền trao cho các đời tổ,
cho đến ta. Giờ đây ta trao lại cho Ông, vậy ông phải kiên cố mà giữ gìn hộ trì
đạo giáo cho được trường tồn vĩnh cửu, luôn tiện đây ta truyền y pháp Ca sa này
cho ngươi để làm thứ biểu tín, rồi từ đây về sau tương truyền cho nhau.
Ngài Huệ Khả thọ
lãnh pháp y ca sa mà bạch rằng:
Ngưỡng bạch Tổ sư:
cúi mong Ngài chỉ giáo con đường tương lai cho con rõ.
Tổ sư Đạt Ma nói
rằng: “ Bên trong ta truyền pháp ấn cho hợp với chơn tâm, ở ngoài ta phú pháp y
để chứng minh phần tông chỉ. Nếu ngươi không có y này sợ người đời nghi kỵ, vì
ta là người Ấn ngươi là người Hoa. Trong khoảng 200 năm sau ta nhập diệt, thì y
ca sa ấy không truyền nữa. Vì sao ? Vì khi ấy đạo pháp rất hưng thịnh khắp mọi
chân trời, Vậy ngươi hãy gắng sức mà hộ trì Phật pháp.
Trước giờ thị tịch Tổ
sư dạy rằng “ Cơ duyên hóa độ ở đây gần mãn, sự truyền pháp cứu mê tình đã
xong. Vậy ta sắp sửa thâu thần nhập diệt.
Tổ sư Đạt Ma trao
truyền chánh pháp cho Ngài Huệ Khả xong, phú chúc mọi việc đã xong, liền ngồi trang nghiêm ở tại pháp tòa hiện ra
nhiều pháp mầu để cảm hóa quần sanh rồi Ngài thị tịch./.
---------]---------
0 nhận xét:
Đăng nhận xét