NGƯỜI TU TỊNH
ĐỘ KHI LÂM CHUNG THƯỜNG CÓ BA ĐIỀU NGHI, BỐN CỬA ẢI
Từ Chiếu đại
sư nói: "Người tu Tịnh Độ khi lâm chung thường có ba điều nghi, bốn cửa ải,
hay làm chướng ngại cho sự vãng sanh, phải dự bị suy nghĩ trước để phá trừ ba
điều nghi là:
1- Nghi
mình túc nghiệp sâu nặng, thời gian công phu tu hành ít, e không được vãng
sanh.
2- Nghi
mình bản nguyện chưa trả xong, tham sân si chưa dứt, e không được vãng sanh.
3- Nghi
mình niệm Phật, Phật không đến rước, e không được vãng sanh.
Bốn cửa ải
là:
1- Hoặc
nhân bị bịnh khổ mà trở lại hủy báng Phật không linh.
2- Hoặc
nhân tham sống mà giết vật mạng cúng tế.
3- Hoặc
nhân uống thuốc mà dùng rượu cùng chất máu tanh hôi.
4- Hoặc
nhân ái luyến mà tự ràng buộc với gia đình."
Đại sư nêu ra thuyết Tam Nghi Tứ Quan ở trên, bậc trí huệ có thể suy
nghĩ tìm phương pháp giải quyết. Nay bút giả xin mạn phép nói lược qua cách phá
trừ để góp ý, và các bạn đồng tu với sự hiểu biết của mình, có thể suy diễn hiểu
rộng thêm ra.
1. Phá mối
nghi túc nghiệp nặng, công tu ít: - Phật A Di Đà từng có lời thệ nguyện:
"Chúng sanh nào chí tâm muốn về Cực Lạc, niệm danh hiệu Ngài cho đến mười
niệm, nếu không được vãng sanh, Ngài thề không thành Phật." Phật không khi
nào nói dối, vậy hành giả phải tin nơi đức Từ Tôn. Mười niệm là thời gian công
phu tu hành rất ít mà còn được vãng sanh, huống chi ta niệm nhiều hơn số đó. Lại
dù kẻ nghiệp nặng đến đâu, như phạm trai phá giới, tạo đủ nghiệp ác, nếu chí
tâm sám hối nương về Phật A Di Đà, Ngài đều tiếp dẫn. Kinh Quán Vô Lượng Thọ đã
chẳng nói kẻ tạo tội nặng ngũ nghịch thập ác, khi lâm chung chí tâm niệm mười
niệm đều được vãng sanh đó ư? Trong truyện Vãng Sanh, như Trương Thiện Hòa,
Hùng Tuấn, Duy Cung, trọn đời giết trâu bò, phá giới, làm ác, khi lâm chung tướng
địa ngục hiện, sợ hãi niệm Phật, liền thấy Phật đến rước. Cho đến loài chim
sáo, két niệm Phật , còn được vãng sanh, huống chi ta chưa phải là tệ đến mức
đó?
2. Phá mối nghi bản nguyện chưa trả, tham sân
si chưa dứt: - Bản nguyện của hành giả đại khái có hai: đạo và đời. Về đạo, có
người nguyện cất chùa bố thí hay nguyện tụng số kinh chú bao nhiêu, làm chưa
tròn đã đến giờ chết. Phải nghĩ rằng: chỉ tín tâm niệm Phật, khi được vãng sanh
sẽ làm vô lượng vô biên công đức, còn bản nguyện chỉ là việc nhỏ, làm xong hay
chưa không mấy quan hệ, và chẳng có hại chi cả. Về đời, hoặc có người vì nhiệm
vụ gia đình chưa tròn, như cha mẹ suy già không ai săn sóc, vợ con thơ dại thiếu
chỗ tựa nương, hoặc có kẻ thiếu nợ người chưa kịp trả, tâm nguyện chưa vẹn nên
lòng chẳng yên. Phải nghĩ rằng: lúc ta sắp chết, dù có lo hay không cũng chẳng
làm sao được. Chi bằng chuyên tâm niệm Phật, khi đã được vãng sanh Tây Phương
chứng đạo quả, thì tất cả bản nguyện trái duyên đều có thể trả xong, tất cả kẻ
oán người thân đều có thể cứu độ.
Lại Kinh
Na Tiên nói: "Ví như hột cát nhẹ, bỏ xuống nước liền chìm. Trái lại tảng đá
dù nặng to, nếu được thuyền chở, có thể đem từ chỗ này sang chỗ khác. Người niệm
Phật cũng thế, nghiệp tuy nhẹ nếu không được Phật cứu độ, tất bị luân hồi, tội
chướng dù nặng bao nhiêu, được Phật tiếp dẫn sẽ sanh về Cực Lạc." Theo đoạn
kinh đây, ta thấy môn Niệm Phật là pháp có thể đới nghiệp vãng sanh, vì nhờ tha
lực. Tảng đá lớn ví cho sức nghiệp nặng to, thuyền chở ví cho nguyện lực của Phật.
Vậy người tu đừng nghĩ rằng mình còn tham, sân, si, e không được vãng sanh. Thí
dụ trên có thể phá luôn điểm nghi về nghiệp nặng ở điều thứ nhứt.
3. Phá mối
nghi niệm Phật, e Phật không đến rước: - Người niệm Phật tùy theo công đức
mình, khi lâm chung thấy Phật, hoặc Bồ Tát, hay Thánh chúng đến rước. Có khi
không thấy chi, mà nhờ sức nguyện của mình và Phật lực thầm nhiếp thọ, thần thức
tự bay về Tây Phương. Đây là bởi công hạnh của mình có cao thấp, sâu cạn. Chỉ cần
yếu lúc ấy ta phải chí tâm niệm Phật, đừng nghĩ chi sai khác. Nếu nghi ngờ sẽ tự
sanh ra chướng ngại. Tóm lại, khi lâm chung dù thấy tướng tốt hay không cũng đừng
quản đến, chỉ hết lòng niệm Phật cho đến giây phút cuối cùng mà thôi.
* Phá
chung bốn cửa ải: - nhân bịnh khổ hủy báng Phật - tham sống sát sanh cúng tế -
cầu lành bịnh uống ruợu, hoặc dùng thuốc có chất huyết tanh - vì ái luyến nên
tâm niệm ràng buộc với gia đình.
Người niệm Phật mà bị tai nạn bịnh khổ, đó là
do nhờ công đức tu hành, nên chuyển quả nặng thành quả nhẹ, chuyển hậu báo
thành hiện báo, trả cho hết để được sanh về Tây Phương. Nếu trở lại nghi ngờ hủy
báng, là người kém tin hiểu, phụ ơn Phật, tự gây tội chướng cho mình. Trong sự
tích Tịnh Độ có thuật chuyện ông Ngô Mao cùng rất nhiều Phật tử khác, nhờ dồn
nghiệp mà sớm được vãng sanh. Vậy khi gặp cảnh này, người niệm Phật nên ý thức
để hiểu rõ.
Lại thân
này giả tạm, tùy theo tội nghiệp mà kiếp sống có vui khổ lâu mau. Nếu giết sanh
mạng để nuôi dưỡng sanh mạng, hoặc cúng tế, thì tội khổ càng thêm nặng, phải
triệt để nương theo Phật và tin chắc lý nhân quả.
Khi đau yếu
chỉ cầu Phật, không nên cầu phù phép tà sư, hoặc nghe lời kẻ chưa hiểu đạo, trở
lại ăn mặn, uống rượu, hay dùng thuốc bằng chất máu huyết tanh hôi. Thân này
nhơ nhớp, được về cõi Phật sớm chừng nào hay chừng ấy, như bỏ chiếc áo hôi rách
mặc sắc phục đẹp thơm, đáng chi phải bận lòng?
Đến như mối
hại về ái luyến khi lâm chung, thì như đoạn trên đã nói. Phải nghĩ: trong gia
đình từ cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, đều do đời trước có nợ nần ân oán,
nên mới tạm hội ngộ nhau. Khi nhân duyên đã hết thì mỗi người đi mỗi ngả. Nếu
có lòng thương, tốt hơn ta nên gát bỏ tình trần cầu sanh Tây Phương, để độ tất
cả kẻ oan thân. Khi cái chết sắp đến, dù có quyến luyến cũng không thể đem
theo, không làm chi được, bởi chính sắc thân của ta còn phải tan về cát bụi. Nếu
ái luyến thì đã không được vãng sanh, lại bị khổ luân hồi vô cùng vô tận.
Những điểm
về Tam Nghi Tứ Quan trên đây, hành giả phải suy nghiệm ghi nhớ kỹ, để dự bị trước
cho tinh thần được yên ổn trong lúc lâm chung.
Trích: Niệm
Phật Thập Yếu - Hòa Thượng Thiền Tâm
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét