Ý
NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ CỦA TỤNG KINH
Mỗi khi tụng kinh,
mình nhớ lại những lời dạy của Phật thì đó là mình niệm Pháp. Khoảng thời gian
mình tụng kinh thì những niệm phiền não, những niệm xấu, niệm ác bị đè phục nên
không khởi lên; do bị đè phục nên nó yếu đi.
Lời phỏng vấn với Hòa thượng Trí Tịnh về tụng đọc kinh như
sau:
PV: Bạch Sư ông, tại Việt Nam, có người
dùng từ đọc kinh, có người dùng từ tụng kinh. Ý nghĩa của hai thuật ngữ này thế
nào?
- Các huynh đệ nên hiểu “tụng” là học thuộc lòng, những khi
lên chánh điện mặc áo tràng đắp y, thắp nhang lễ Phật, có chuông có mõ, mở kinh
ra rồi cho đó là tụng. Kỳ thật đó không phải là tụng kinh mà chỉ là đọc kinh.
Tụng kinh là phải đọc thuộc lòng kinh. Nên nhớ kỹ điều đó! Khi đã thuộc lòng
rồi, mình tụng mới có lợi ích lớn. Không những lúc mặc áo tràng đắp y lên điện
Phật, mà trong những khi đi đứng nằm ngồi, thỉnh thoảng những lời kinh do mình
thuộc nó sẽ khởi lên trong tâm.
Như người đời thuộc những bài ca mà họ ưa thích, thì những
khi đi đứng nằm ngồi họ thường khe khẽ cất lên vài câu, hay trong tâm cũng thường
nghĩ nhớ đến những bài ca bài hát đó. Cũng vậy, nếu mình thường niệm Phật thì
nó khởi lên câu niệm Phật. Còn nếu mình thuộc lòng kinh thì những lời kinh
thường hay khởi lên thì ngay lúc đó là mình đã tụng kinh rồi.
Mỗi khi tụng kinh, mình nhớ lại những lời dạy
của Phật thì đó là mình niệm Pháp. Khoảng thời gian mình tụng kinh thì những
niệm phiền não, những niệm xấu, niệm ác bị đè phục nên không khởi lên; do bị đè
phục nên nó yếu đi.
PV: Sư ông thường dạy rằng lời Phật
thật quý báu. Vậy, người tụng kinh do tôn kính lời Phật sẽ đạt được lợi ích gì?
- Mỗi khi tụng kinh, mình nhớ lại những lời dạy của Phật thì
đó là mình niệm Pháp. Khoảng thời gian mình tụng kinh thì những niệm phiền não,
những niệm xấu, niệm ác bị đè phục nên không khởi lên; do bị đè phục nên nó yếu
đi, nó đã yếu thì lúc có khởi lên cũng khởi yếu. Đây là nói phục, còn đoạn là
khác nữa. Nhưng nhờ cái phục nên nó yếu. Vì yếu nên tội chướng nghiệp chướng
cũng yếu dần. Khi bên tội chướng, nghiệp chướng yếu thì thiện căn công đức sẽ
khởi dậy. Hai cái đó như hai cái giá cân. Nếu bên này nặng thì bên kia bị nhẹ.
Nếu bên này nhẹ thì bên kia nặng, lẽ đương nhiên là như vậy. Nói cách khác,
ngoài phước báu do tôn kính Phật pháp, người tụng kinh có thể làm tiêu trừ
nghiệp chướng.
PV: Trong đời tu của Sư ông, hẳn nhờ
tụng kinh Sư ông ngộ ra nhiều điều. Xin Sư ông đơn cử một ví dụ về cái ngộ nhờ
tụng kinh?
- Nay tôi sẽ nói rõ điều này cho các huynh đệ nghe, vì thông
thường ít ai nghĩ đến. Nhân khi tụng kinh Kim Cang tôi đã khám phá ra một điều
mà từ lâu suy nghĩ không biết vì sao trong kinh nói một vị Tu đà hoàn dứt trừ
được kiến phiền não, còn tư phiền não thì chậm nhất là trong bảy đời dứt hết
thành A la hán. Vị Tu đà hoàn không có đời thứ tám, chỉ đến đời thứ bảy là cuối
cùng. Trong kinh nói rõ ràng, chứ không nói việc tu hành gì cả.
Nếu mình thường niệm Phật thì nó khởi lên câu
niệm Phật. Còn nếu mình thuộc lòng kinh thì những lời kinh thường hay khởi lên
thì ngay lúc đó là mình đã tụng kinh rồi.
Tôi thường suy nghĩ việc đó hoài, nghiệm mãi không ra. Cho
đến khi tụng kinh Kim Cang đến đoạn Phật hỏi ngài Tu Bồ Đề: Vị Tu đà hoàn có tự
nói mình là Tu đà hoàn không? Ngài Tu Bồ Đề đáp là không. Bởi vì Tu đà hoàn gọi
là nhập lưu. Nói nhập mà không chỗ nhập. Không nhập vào sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp, do đó gọi là Tu đà hoàn. Ngay đó tôi hoát nhiên phá giải được cái
điều mà tốn không biết bao nhiêu thời gian suy nghĩ về lý do tại sao mà vị Tu
đà hoàn không có đời thứ tám, chỉ nội trong bảy đời dứt tư hoặc chứng A la hán.
Nghĩa là vị Tu đà hoàn sau khi kiến hoặc đã dứt rồi thì tâm
của vị ấy không còn bị chi phối bởi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Do không
bị chi phối nên tư hoặc không có dịp phát khởi. Vì không phát khởi nên lần lần
nó mòn yếu đi. Do mòn yếu nên nó dứt lần lần. Dứt một phần thì thành Tư đà hàm.
Dứt thêm phần nữa thì thành A na hàm. Dứt thêm nữa cho đến dứt sạch hết thì
thành A la hán. Nó dứt từng phần, dứt lần lần.
Cũng thế, hằng ngày mình có niệm Phật tụng kinh, thì lúc đó
phiền não, nghiệp chướng nó không khởi. Nó không khởi trong khoảng thời gian
mình có niệm Phật, tụng kinh, chứ không phải nó luôn luôn không khởi. Nhưng có
như vậy thì nó yếu lần đi. Nó yếu lần đi thì cái lành cái tốt phát triển lên
thì gọi là mình có tu. Phiền não nghiệp chướng bị dằn bị phục thì thiện căn
công đức phát sanh, cho đến lúc nào đó sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không
còn chi phối nội tâm mình là thành công.
Mỗi khi tụng kinh,
mình nhớ lại những lời dạy của Phật thì đó là mình niệm Pháp.
Mà cũng không biết đến lúc nào, bởi vì chủng tử phàm phu
trong vòng sanh tử luân hồi của mình nó nặng nề lắm, phiền não nghiệp chướng
nặng nề lắm. Nhưng nếu hằng ngày mình có phương pháp để dằn để phục, thì nó sẽ
yếu lần lần. Bằng không nếu bị sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp chi phối thì
mỗi ngày chẳng những nó không yếu mà lại mạnh thêm, thì mình càng chui đầu sâu
vào vòng sanh tử luân hồi. Lẽ tất nhiên hai ngả rõ ràng như vậy. Trên đây chỉ
là một ví dụ. Nếu các huynhđệ mỗi ngày đều tụng kinh thì sẽ tỏ rõ nhiều điều bổ
ích. Do đó, tôi khuyên các huynh đệ siêng năng tụng kinh để thâm nhập trí Phật.
PV: Tại Việt Nam, khi tụng kinh, các
chùa còn niệm Phật. Xin Sư ông khai thị về phương pháp niệm Phật trong tụng
kinh?
- Tôi nói rõ để huynh đệ biết rằng tụng kinh và niệm Phật
đúng cách là thật tu. Khi niệm Phật thì không duyên việc khác. Không duyên theo
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Chỉ duyên nơi âm thanh câu niệm Phật. Huân
tập mỗi ngày một mạnh lên nơi hạnh niệm Phật thì những niệm sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp khác, mỗi ngày một bớt đi, vì trong khoảng thời gian đó nó không
khởi được thì nó phải giảm bớt. Mà nếu thời gian niệm Phật càng ngày càng nhiều
thì tất nhiên mỗi ngày mình lần lần tiến lên.
Cũng như người tu thiền giữ tâm đừng cho khởi vọng, tất
nhiên là làm sao cho nội tâm đừng bị chi phối bởi sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp. Nó không chi phối thì phiền não nghiệp chướng không do đâu mà sanh khởi.
Phiền não nghiệp chướng không khởi được thì lần lần nhẹ đi, cho đến lúc nào đó
cũng như cái màn che bị rách, bị tan thì ánh sáng từ trong nội tâm phát ra, gọi
là tỏ ngộ. Hai đường tu dù Thiền dù Tịnh giống nhau, chứ không chi khác.
Hằng ngày mình có
niệm Phật tụng kinh, thì lúc đó phiền não, nghiệp chướng nó không khởi.
BV: Theo Sư ông tu thật chất là không
để tâm dính vào sáu trần cảnh?
- Đúng vậy! Hằng ngày mình bị sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp chi phối là không có tu. Lúc nào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nó không
chi phối nội tâm của mình được, thì chính lúc đó là lúc mình tu. Nên nhớ kỹ như
vậy! Chứ không phải đợi đến lúc mặc áo, đắp y lên chánh điện. Mặc áo đắp y lên
chánh điện, lễ Phật mà bị cảnh ngoài sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nó chi
phối thì chưa phải là có tu.
Pháp của Phật dạy nói cho rõ là tu tâm. Còn nơi thân và khẩu
chỉ trợ giúp cho nội tâm mà thôi. Nói vậy không phải phế bỏ những thời khóa tu
tập, ban đầu sức tu còn yếu thì phải nương vào thời khóa, quan trọng ở chỗ là
ngoài thời khóa cũng phải tu. Do đó niệm Phật không luận là lúc đi, đứng, nằm,
ngồi gì, nếu có niệm luôn thì có tu, mà bị gián đoạn là không có tu. Đó là điểm
chánh yếu. Tất cả các pháp môn khác cũng đều như vậy.
PV: Bạch Sư ông, để thâm nhập kinh tạng
khi tụng kinh, người tụng phải làm gì để đạt được?
- Để được như thế, khi tụng kinh phải thuộc lòng kinh. Chẳng
những các thời khóa trong chùa phải thuộc mà các kinh mình thích cũng phải
thuộc. Như tôi cũng vậy, thích Phổ Môn phải thuộc Phổ Môn, thích Kim Cang phải
thuộc Kim Cang, thích phẩm Phổ Hiền phải thuộc phẩm Phổ Hiền, cho đến thích
Pháp Hoa phải thuộc Pháp Hoa. Lúc trước mỗi ngày giữ đều đặn như vậy, riêng
kinh Pháp Hoa thì mỗi ngày tụng một biến hoặc hai ngày một biến. Ai làm được
như thế thì thâm nhập kinh tạng không khó.
Tụng kinh niệm Phật ngoài mục đích chính yếu
là vãng sanh Cực Lạc ra, còn có tác dụng hàng phục những phiền não nghiệp
chướng, khiến cho những thiện căn công đức được tăng trưởng.
PV: Bạch Sư ông, người bận rộn với nhiều công việc không có
thời gian để tụng nhiều thì làm thế nào có thể hiểu kinh được?
- Người bận rộn có thể chọn các phần kinh quan trọng để
tụng. Tôi đơn cử cách sắp thời gian của tôi trong quá khứ. Năm 1963 khởi lên
việc tranh đấu với ông Diệm và năm 1964 thành lập GHPGVN Thống Nhất, tôi phải
bận nhiều công việc nên mỗi ngày không có thời gian tụng kinh Pháp Hoa. Ai cũng
biết tụng kinh phải tụng luôn nếu không lại quên nên không thể tiếp tục việc
tụng kinh Pháp Hoa, mà chỉ giữ lại bài kệ phẩm Phương Tiện làm thời khóa cho
đến bây giờ. Bài kệ phẩm Phương Tiện cũng nhiều lắm, gần 500 câu chứ đâu phải
ít. Khi có thể thu xếp thời gian thì ta tụng cố định và đều đặn hơn thì mới
hiểu kinh thấu đáo được.
Hiện nay, thời khóa mỗi ngày của tôi nhất định phải có là:
sáng sớm thức dậy tụng phẩm Phổ Hiền trong kinh Hoa Nghiêm, kinh Kim Cang, bài
kệ phẩm Phương Tiện của kinh Pháp Hoa, kinh Phổ Môn, kinh A Di Đà” rồi hoàn
kinh niệm Phật. Nếu tụng ra tiếng thì hơn 2 tiếng đồng hồ, nếu tụng thầm thì
trên dưới một tiếng rưỡi. Năm nay tôi đã 94 tuổi nên chỉ thực hiện thời khóa
bằng cách tụng thầm mà thôi, chứ tụng ra tiếng thì không nỗi nữa rồi. Sở dĩ tôi
nói kỹ như vậy để chúng ta biết rõ cách tu tập của mình là phải có sự liên tục
hằng ngày. Không nên lúc có, lúc không.
Nếu mỗi ngày tu hành
đều đặn như vậy, tất nhiên lần lần bớt đi phần phàm phu sanh tử mà tiến lần
trên con đường Hiền Thánh giải thoát.
Tụng kinh niệm Phật ngoài mục đích chính yếu là vãng sanh
Cực Lạc ra, còn có tác dụng hàng phục những phiền não nghiệp chướng, khiến cho
những thiện căn công đức được tăng trưởng. Nếu mỗi ngày tu hành đều đặn như
vậy, tất nhiên lần lần bớt đi phần phàm phu sanh tử mà tiến lần trên con đường
Hiền Thánh giải thoát.
PV: Bạch Sư ông, khi hiểu kinh rồi thì
lộ trình tu bao lâu mới đạt kết quả?
- Ngay đức Phật cũng phải trải qua vi trần số kiếp tu tập
chứ không phải con số ức muôn mà mình thường tính toán. Phải lấy số vi trần để
tính số kiếp tu hành. Rõ ràng như vậy, chính đức Phật nói chứ không ai khác.
Như Phẩm Đề Bà Đạt Đa trong kinh Pháp Hoa, ngài Trí Tích Bồ tát nói: “Tôi xem
trong cõi Tam thiên Đại thiên nhẫn đến không có chỗ nhỏ bằng hột cải mà không
phải là chỗ của Bồ tát (chỉ cho Phật Thích Ca) bỏ thân mạng để vì lợi ích chúng
sanh, vậy sau mới thành đạo Bồ đề”.
Chứ không phải thường thường như chúng ta, làm được chút ít
công đức gì đó mà đòi thành ông Hiền ông Thánh liền đâu. Trong kinh dạy rất đầy
đủ, nhất là kinh Đại Bửu Tích nói về công hạnh của các vị Bồ tát rõ ràng lắm.
Mọi người nên cố gắng tìm đọc. Tôi bây giờ phải nhờ người khác đọc để biết được
công hạnh của các ngài quá khứ tu thế nào, hiện tại thành tựu thế nào.
Nên nhớ kỹ là vi trần
số kiếp chứ không phải ít đâu. Không phải nghe nói: “Tức tâm tức Phật” rồi cho
rằng thấy tâm là thành Phật. Vì nếu như vậy là mình hơn Phật Thích Ca xa lắm
rồi.
Nói chung, việc dứt trừ nghiệp chướng phiền não để ra khỏi
sanh tử luân hồi không phải là chuyện dễ. Nhưng mình có tu tập đều đặn là mình
có bước đi. Mà đã có bước đi là có lúc đến. Có bước một bước là có giải thoát
một bước, chứ không phải đợi đến đích rồi mới giải thoát. Thường nghĩ như vậy
lại thấy vui. Bởi vì biết mình mỗi ngày có bước là mỗi ngày gần thêm bờ giải
thoát. Nên nhớ kỹ là vi trần số kiếp chứ không phải ít đâu. Không phải nghe
nói: “Tức tâm tức Phật” rồi cho rằng thấy tâm là thành Phật. Vì nếu như vậy là
mình hơn Phật Thích Ca xa lắm rồi.
Hoằng Trí -
nguồn sưu tầm
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét