Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2026

TU TẬP PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ SAO CHO ĐÚNG

 

TU TẬP PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ SAO CHO ĐÚNG

  Pháp môn Tịnh Độ dễ tu dễ thành, nhưng có số người không hiểu nên tu hình thức đúng mà nội dung sai, cuối cùng không đạt được kết quả vãng sanh. Phần đông người xuất gia cũng như tại gia, đều cho mình đang tu pháp môn Tịnh Độ, nhưng không hiểu mục đích của pháp môn Tịnh độ và hành trì pháp môn. Có một số vị xuất gia ngày tụng hai thời kinh  công phu sớm và tối, xong rồi còn thời gian dành cho việc, ăn uống, ngủ nghĩ, thao tác, thù tạc , đi cúng đám, cầu siêu, cầu an. Vổn vẹn để tâm trong việc tụng đọc, còn niệm Phật ít để tâm đến, và cho đó là tu pháp môn Tịnh Độ, và nghĩ rằng mình đã đem pháp môn Tịnh độ, độ cho người khác. Quan niệm tu theo pháp môn Tịnh độ như thế thì tu sai chứ chưa đúng.

  Pháp tu Tịnh độ có chánh tu và trợ tu, chánh tu là lấy câu Phật hiệu làm chánh, còn tụng kinh bái sám và các pháp khác làm phụ, gọi là trợ tu. Đem pháp trợ tu và tạp tu làm chánh thì không phải pháp môn Tịnh độ, cho nên gọi là tu sai là vậy. Tu như vậy, kết quả dẫn kết phước báu nhơn thiên chứ không đưa đến vãng sanh Cực Lạc.

  Pháp môn Tịnh độ dựa trên ba việc, người tu Tịnh độ muốn vãng sanh Cực Lạc hành giả phải có đủ ba điều: Tín, Nguyện và Hạnh. Trong ba điều đó Tín là nền tảng cơ bản của pháp môn. Vì không có phần Tín này thì không có hai phần sau. Ba thứ này tương quan mật thiết với nhau như cái đỉnh có ba chân, thiếu một tức sụp đổ, vì thế không thể thiếu một trong ba thứ.

  TÍN là tin có thế giới Cực Lạc, tin có Phật A Di Đà, tin niệm Phật có thể giúp cho chúng ta về được cõi đó. Tin lời nguyện của Phật A Di Đà không hư dối “Chúng sanh dù nghiệp nặng đến đâu, nếu đã niệm được danh hiệu Ngài thì nhất định được tiếp dẫn vãng sanh”.

  NGUYỆN  là tha thiết mong cầu muốn được về cõi Cực Lạc. Muốn vậy phải có tâm nhòm chán Ta bà. Nói chán là nhòm chán những ham muốn đối với ngũ dục lạc thế gian. Nếu tâm còn ham muốn dục lạc thế gian thì nguyện về cõi Cực lạc chỉ là nguyện suông, không đủ lực để về cõi Cực Lạc, cũng không đủ lực để niệm Phật cho được nhất tâm bất loạn.

  Nếu có Tín Hạnh đầy đủ mà nguyện không tha thiết thì cũng không thể vãng sanh Cực Lạc, chỉ đi theo cõi lành mà thôi. Cho nên Đại Sư Ngẫu Ích nói: “Nếu Tín Nguyện bền chắc, khi lâm chung chỉ cần mười niệm hay một niệm danh hiệu cũng quyết định được vãng sanh. Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Hạnh Phổ Hiền nói: “ Người này khi sắp mạng chung, trong khoảng sát na rốt sau, tất cả các căn đều tan hoại, tất cả quyến thuộc đều lìa bỏ, tất cả oai thế thảy đều lui hết. Duy chỉ có nguyện vương này là không rời đi. Trong tất cả thời, nó đều dẫn dắt ở trước. Trong một khoản sát na, kẻ ấy liền được vãng sanh thế giới Cực lạc, cho nên nguyện cần phải tha thiết.”.

  HẠNH là những gì hành giả phải thực hành để tâm có thể tương ưng được với cõi Cực lạc. Đó là niệm danh hiệu Phật.

  Hòa thượng Thiền Tâm nói: “ Đã đủ Tín, Nguyện mà thiếu phần Hạnh thì như thuyền có lái mà không có chèo, không thể vãng sanh. Có người nghe nói chỉ cần Tín Nguyện chân thiết, khi lâm chung niệm mười niệm, hay một niệm cũng quyết được vãng sanh Tây phương, liền nghĩ rằng như thế cần gì phải vội gấp, đợi đến khi ấy niệm Phật cũng được. Đó là ý tưởng rất sai lầm. Vì đã xem thường pháp môn niệm Phật. Phải biết điểm quan yếu để vãng sanh theo kinh “Phật thuyết A Di Đà” là khi lâm chung lòng không điên đảo (Thị nhân chung thời tâm bất điên đảo tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật Cực lạc quốc độ). Nếu tâm không  điên đảo thì quả tình niệm mười niệm hay một niệm đều được vãng sanh. Nhưng ai dám chắc đến lúc ấy tâm mình không điên đảo? Nếu bình thường không chịu dụng công, đến khi mạng chung, tứ đại phân ly, sức nghiệp đồn dập, thân tâm bị khổ làm cho kinh hoàng mê loạn, sợ e một niệm còn không thực hành được, huống là mười niệm? Cho nên, muốn khi lâm chung có phần bảo đảm thì lúc bình thường, hành giả phải chuyên niệm Phật cho nhiều, cố gắng đạt cho được trình độ nhất tâm bất loạn. Bằng khi đợi sắp chết mới niệm, trên lý nghe thì suốt thông, nhưng trên sự e chẳng phải đơn giản. Cho nên, các hành giả niệm Phật phải gắng dụng công, không nên lơ là khinh thường sự hành trì mà rước lấy nỗi thất bại”.

  Bình thường nếu không chuyên tâm trì niệm danh hiệu thì khi bệnh tật khổ nạn, Phật pháp còn không cứu giúp gì được huống là khi chết. Vì thế, nếu nói tu Tịnh độ mà chỉ đi chùa lễ lạy lấy đó làm vui, không chuyên tâm trì niệm danh hiệu Phật cho nhiều, cũng không tham học giáo lý và tập buông bớt tham chấp, tức chỉ có xưng danh mà không có chất thực của cái gọi là Tịnh độ, thì khó có thể giúp mình an vui  trong cuộc sống khi gặp việc bất như ý xảy ra, huống là khi gần chết, tứ đại phân ly đau đớn, tâm tán loạn lo lắng? Vì thế, dù là tu Tịnh độ hay tu Thiền, muốn cuộc sống hiện tại được an vui, lúc ra đi được an ổn, thì bình thường nhất định phải có công phu. Dù niệm Phật chưa được nhất tâm bất loạn, Thiền tập chưa được chỗ vô niệm thì trên sự học hỏi cũng phải quán xét thấu đáo cái lý vô thường ở thế gian. Quán chết là việc không ai có thể tránh, chết rồi cũng không mất mà đi đầu thai kiếp khác. Sướng hay khổ ở kiếp sau là do ba nghiệp trong đời này quyết định v.v…Biết vậy thì giới đã thọ cần phải giữ kỹ được chừng nào hay chừng ấy, thiện nghiệp cần phải tạo cho nhiều. Tạo rồi hồi hướng cho  khắp tất cả chúng sanh cũng như hồi hướng cho sở nguyện của mình. Được vậy thì tu Thiền hay tu Tịnh độ, khi ra đi đều được an ổn.

  Tu Tịnh độ, Tín, Nguyện, Hạnh phải đủ mới về được Cực lạc. Còn lại cứ theo nghiệp hiện tại mà đi. Thiện nghiệp nhiều, cận tử nghiệp không có việc gì khiến cho tâm bức xúc thì đương nhiên vào cõi giới lành. Thiện nghiệp có nhưng cận tử nghiệp xấu thì vẫn đầu thai vào ba đường dữ. Những lúc này rất cần sự hộ niệm.

  Người tu Thiền, muốn được vô sanh, dòng tâm thức phải dừng. Đó là việc không mấy người làm được. Tuy vậy, Khi tu Thiền, ngoài việc điều phục thân tâm để có định huệ, hành giả còn phải giữ giới và làm các việc phước thiện. Dù định huệ chưa được bình đẳng để có thể vô sinh thì việc giữ giới làm phước thiện là cái nhân giúp hành giả tiếp tục đường lành của mình. Vì thế, người tu thiền, dù chưa được định huệ, chưa được vô sinh thì vẫn sinh ở cõi lành, để tiếp  tục con đường tu hành của mình. Nguyện lực là việc không thể thiếu của hành giả tu Thiền, nó góp phần không nhỏ cho việc này. Song nguyện lực của hành giả tu Thiền không phải để vãng sanh Cực lạc mà là ra đời luôn gặp được Chánh pháp, gặp được minh sư, tu hành tinh tấn v.v.. để trọn thành Phật đạo.

  Tóm lại, tu Thiền hay tu Tịnh, nếu chúng ta có tâm tu hành và tu đúng với nội dung pháp môn mình đang tu thì hiện tại được lợi ích, tương lai được lợi ích, không phải chỉ cho mình mà còn cho người hữu duyên với mình.

  Kết luận:  Hiện tại nếu chúng ta có tâm tu tập và tu tập tốt thì dù là tu Thiền hay tu Tịnh, thảy đều được lợi ích trong hiện tại và lúc lâm chung. Vấn đề là phước nghiệp chúng ta không được tốt, nên không gặp được thầy lành bạn tốt, hoặc gặp được thầy lành bạn tốt rồi, lại không chịu tu. Đó là lý do khiến chúng ta không thể áp dụng Phật pháp vào đời sống để tìm thấy an vui trong hiện tại và được an ổn khi ra đi./.

  Trích: Thiền hay Tịnh tốt cho phút lâm chung- Chân Hiền Tâm- NSGN số 243-  6/2016.

TU TẬP PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ SAO CHO ĐÚNG Rating: 4.5 Diposkan Oleh: CHÙA TAM BẢO TAM KỲ

0 nhận xét:

Đăng nhận xét