TU TẬP
PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ SAO CHO ĐÚNG
Pháp môn Tịnh Độ dễ tu dễ thành, nhưng có số
người không hiểu nên tu hình thức đúng mà nội dung sai, cuối cùng không đạt được
kết quả vãng sanh. Phần đông người xuất gia cũng như tại gia, đều cho mình đang
tu pháp môn Tịnh Độ, nhưng không hiểu mục đích của pháp môn Tịnh độ và hành trì
pháp môn. Có một số vị xuất gia ngày tụng hai thời kinh công phu sớm và tối, xong rồi còn thời gian
dành cho việc, ăn uống, ngủ nghĩ, thao tác, thù tạc , đi cúng đám, cầu siêu, cầu
an. Vổn vẹn để tâm trong việc tụng đọc, còn niệm Phật ít để tâm đến, và cho đó
là tu pháp môn Tịnh Độ, và nghĩ rằng mình đã đem pháp môn Tịnh độ, độ cho người
khác. Quan niệm tu theo pháp môn Tịnh độ như thế thì tu sai chứ chưa đúng.
Pháp tu Tịnh độ có chánh tu và trợ tu, chánh
tu là lấy câu Phật hiệu làm chánh, còn tụng kinh bái sám và các pháp khác làm
phụ, gọi là trợ tu. Đem pháp trợ tu và tạp tu làm chánh thì không phải pháp môn
Tịnh độ, cho nên gọi là tu sai là vậy. Tu như vậy, kết quả dẫn kết phước báu
nhơn thiên chứ không đưa đến vãng sanh Cực Lạc.
Pháp môn Tịnh độ dựa trên ba việc, người tu Tịnh
độ muốn vãng sanh Cực Lạc hành giả phải có đủ ba điều: Tín, Nguyện và Hạnh.
Trong ba điều đó Tín là nền tảng cơ bản của pháp môn. Vì không có phần Tín này
thì không có hai phần sau. Ba thứ này tương quan mật thiết với nhau như cái đỉnh
có ba chân, thiếu một tức sụp đổ, vì thế không thể thiếu một trong ba thứ.
TÍN là tin có thế giới Cực Lạc, tin có Phật A
Di Đà, tin niệm Phật có thể giúp cho chúng ta về được cõi đó. Tin lời nguyện của
Phật A Di Đà không hư dối “Chúng sanh dù nghiệp nặng đến đâu, nếu đã niệm được
danh hiệu Ngài thì nhất định được tiếp dẫn vãng sanh”.
NGUYỆN
là tha thiết mong cầu muốn được về cõi Cực Lạc. Muốn vậy phải có tâm
nhòm chán Ta bà. Nói chán là nhòm chán những ham muốn đối với ngũ dục lạc thế
gian. Nếu tâm còn ham muốn dục lạc thế gian thì nguyện về cõi Cực lạc chỉ là
nguyện suông, không đủ lực để về cõi Cực Lạc, cũng không đủ lực để niệm Phật
cho được nhất tâm bất loạn.
Nếu có Tín Hạnh đầy đủ mà nguyện không tha thiết
thì cũng không thể vãng sanh Cực Lạc, chỉ đi theo cõi lành mà thôi. Cho nên Đại
Sư Ngẫu Ích nói: “Nếu Tín Nguyện bền chắc, khi lâm chung chỉ cần mười niệm hay
một niệm danh hiệu cũng quyết định được vãng sanh. Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Hạnh Phổ
Hiền nói: “ Người này khi sắp mạng chung, trong khoảng sát na rốt sau, tất cả
các căn đều tan hoại, tất cả quyến thuộc đều lìa bỏ, tất cả oai thế thảy đều
lui hết. Duy chỉ có nguyện vương này là không rời đi. Trong tất cả thời, nó đều
dẫn dắt ở trước. Trong một khoản sát na, kẻ ấy liền được vãng sanh thế giới Cực
lạc, cho nên nguyện cần phải tha thiết.”.
HẠNH là những gì hành giả phải thực hành để
tâm có thể tương ưng được với cõi Cực lạc. Đó là niệm danh hiệu Phật.
Hòa thượng
Thiền Tâm nói: “ Đã đủ Tín, Nguyện mà thiếu phần Hạnh thì như thuyền có lái mà
không có chèo, không thể vãng sanh. Có người nghe nói chỉ cần Tín Nguyện chân
thiết, khi lâm chung niệm mười niệm, hay một niệm cũng quyết được vãng sanh Tây
phương, liền nghĩ rằng như thế cần gì phải vội gấp, đợi đến khi ấy niệm Phật
cũng được. Đó là ý tưởng rất sai lầm. Vì đã xem thường pháp môn niệm Phật. Phải
biết điểm quan yếu để vãng sanh theo kinh “Phật thuyết A Di Đà” là khi lâm
chung lòng không điên đảo (Thị nhân chung thời tâm bất điên đảo tức đắc vãng sanh
A Di Đà Phật Cực lạc quốc độ). Nếu tâm không
điên đảo thì quả tình niệm mười niệm hay một niệm đều được vãng sanh.
Nhưng ai dám chắc đến lúc ấy tâm mình không điên đảo? Nếu bình thường không chịu
dụng công, đến khi mạng chung, tứ đại phân ly, sức nghiệp đồn dập, thân tâm bị
khổ làm cho kinh hoàng mê loạn, sợ e một niệm còn không thực hành được, huống
là mười niệm? Cho nên, muốn khi lâm chung có phần bảo đảm thì lúc bình thường,
hành giả phải chuyên niệm Phật cho nhiều, cố gắng đạt cho được trình độ nhất
tâm bất loạn. Bằng khi đợi sắp chết mới niệm, trên lý nghe thì suốt thông,
nhưng trên sự e chẳng phải đơn giản. Cho nên, các hành giả niệm Phật phải gắng
dụng công, không nên lơ là khinh thường sự hành trì mà rước lấy nỗi thất bại”.
Bình thường nếu không chuyên tâm trì niệm danh
hiệu thì khi bệnh tật khổ nạn, Phật pháp còn không cứu giúp gì được huống là
khi chết. Vì thế, nếu nói tu Tịnh độ mà chỉ đi chùa lễ lạy lấy đó làm vui,
không chuyên tâm trì niệm danh hiệu Phật cho nhiều, cũng không tham học giáo lý
và tập buông bớt tham chấp, tức chỉ có xưng danh mà không có chất thực của cái
gọi là Tịnh độ, thì khó có thể giúp mình an vui
trong cuộc sống khi gặp việc bất như ý xảy ra, huống là khi gần chết, tứ
đại phân ly đau đớn, tâm tán loạn lo lắng? Vì thế, dù là tu Tịnh độ hay tu Thiền,
muốn cuộc sống hiện tại được an vui, lúc ra đi được an ổn, thì bình thường nhất
định phải có công phu. Dù niệm Phật chưa được nhất tâm bất loạn, Thiền tập chưa
được chỗ vô niệm thì trên sự học hỏi cũng phải quán xét thấu đáo cái lý vô thường
ở thế gian. Quán chết là việc không ai có thể tránh, chết rồi cũng không mất mà
đi đầu thai kiếp khác. Sướng hay khổ ở kiếp sau là do ba nghiệp trong đời này
quyết định v.v…Biết vậy thì giới đã thọ cần phải giữ kỹ được chừng nào hay chừng
ấy, thiện nghiệp cần phải tạo cho nhiều. Tạo rồi hồi hướng cho khắp tất cả chúng sanh cũng như hồi hướng cho
sở nguyện của mình. Được vậy thì tu Thiền hay tu Tịnh độ, khi ra đi đều được an
ổn.
Tu Tịnh độ, Tín, Nguyện, Hạnh phải đủ mới về
được Cực lạc. Còn lại cứ theo nghiệp hiện tại mà đi. Thiện nghiệp nhiều, cận tử
nghiệp không có việc gì khiến cho tâm bức xúc thì đương nhiên vào cõi giới
lành. Thiện nghiệp có nhưng cận tử nghiệp xấu thì vẫn đầu thai vào ba đường dữ.
Những lúc này rất cần sự hộ niệm.
Người tu Thiền, muốn được vô sanh, dòng tâm thức
phải dừng. Đó là việc không mấy người làm được. Tuy vậy, Khi tu Thiền, ngoài việc
điều phục thân tâm để có định huệ, hành giả còn phải giữ giới và làm các việc
phước thiện. Dù định huệ chưa được bình đẳng để có thể vô sinh thì việc giữ giới
làm phước thiện là cái nhân giúp hành giả tiếp tục đường lành của mình. Vì thế,
người tu thiền, dù chưa được định huệ, chưa được vô sinh thì vẫn sinh ở cõi
lành, để tiếp tục con đường tu hành của
mình. Nguyện lực là việc không thể thiếu của hành giả tu Thiền, nó góp phần
không nhỏ cho việc này. Song nguyện lực của hành giả tu Thiền không phải để
vãng sanh Cực lạc mà là ra đời luôn gặp được Chánh pháp, gặp được minh sư, tu
hành tinh tấn v.v.. để trọn thành Phật đạo.
Tóm lại, tu Thiền hay tu Tịnh, nếu chúng ta có
tâm tu hành và tu đúng với nội dung pháp môn mình đang tu thì hiện tại được lợi
ích, tương lai được lợi ích, không phải chỉ cho mình mà còn cho người hữu duyên
với mình.
Kết luận:
Hiện tại nếu chúng ta có tâm tu tập và tu tập tốt thì dù là tu Thiền hay
tu Tịnh, thảy đều được lợi ích trong hiện tại và lúc lâm chung. Vấn đề là phước
nghiệp chúng ta không được tốt, nên không gặp được thầy lành bạn tốt, hoặc gặp
được thầy lành bạn tốt rồi, lại không chịu tu. Đó là lý do khiến chúng ta không
thể áp dụng Phật pháp vào đời sống để tìm thấy an vui trong hiện tại và được an
ổn khi ra đi./.
Trích:
Thiền hay Tịnh tốt cho phút lâm chung- Chân Hiền Tâm- NSGN số 243- 6/2016.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét