NGUỒN GỐC
HÁT BỘI
Hát bội là bộ môn kịch nói cổ truyền Việt Nam,
có nguồn gốc lâu đời, là một môn nghệ thuật. Hát bội, một thể loại có nguồn gốc
chính trong kinh điển Phật giáo từ Ấn Độ sang Trung Hoa. Hát là ca hát, Bội là
là điệu múa, tay xoay, chân cử động. Hát bội là môn nghệ thuật hát vừa hát vừa múa khua tay vung múa, biểu cảm khí chất,
tình huống, tâm trạng của một sự tích, một
tình tiết trong câu chuyện.
Hát bội bắt nguồn từ kinh điển Phật giáo, truyền
thống này rõ nét nhất là ở Phật giáo Mật
tông. Các pháp sư miệng niệm chú, tay bắt ấn, từ đó chiết xuất ra hình thức hát
bội trong văn hóa nhân gian của Việt Nam. Hát bội là biến thể của từ Phạm bối.
Phạm tiếng Phạn, Bối là kinh điển. Những gì thuộc về kinh điển phát xuất từ Ấn
Độ gọi là Phạm bối. Hát bội có nguồn gốc từ “ca bối”.
Ca bối là một thuật ngữ Phật học, xuất hiện
trong kinh điển Phật giáo. Thuật ngữ Ca bối, Phạn ngữ gọi là Bà sư, Trung Hoa dịch
là Tán thán, vốn chỉ cho một thể kịch thơ trong văn chương Ấn Độ cổ đại thường
gọi là Phạm bối. Phạm bối mặc dù có nguồn gốc từ thời Phật, nhưng được định
hình và phát triển mạnh mẽ vào những thế kỷ đầu công nguyên. Người góp viên gạch
đầu tiên được xem là Ngài Mã Minh (-80 –
150), với tác phẩm Phật sở Hành tán. Chùa chiền ở Ấn Độ rất thịnh hành lễ tán,
mỗi khi lễ tụng đều dùng cao thanh tán thán trong hai thời khóa sớm chiều.
Phạm bối là hình thái nghệ thuật đặc thù của
Phật giáo Ấn Độ cổ đại. Phạm bối là điệu ca có khi được kết hợp với các loại nhạc
khí, có khi chỉ là độc diễn. Trong nghệ thuật phạm bối hội tụ nhiều tính chất,
rất đặc thù, thanh nhã nhưng không yếu đuối, hùng tráng nhưng không hung bạo,
trôi chảy mà lại khoan thai, tịch lặng nhưng không ứ trệ. Do vậy, có thể nói, đây là một nghệ
thuật diễn xướng gắn kết với giá trị tâm linh, đòi hỏi phải có sự phối kết chặt
chẻ về giai điệu cũng như phương diện ngôn từ.
Xét về phương diện biểu diễn nghệ thuật phạm bối
có lẽ Phật giáo Mật tông là đại diện điển hình, vì có những hoạt động liên quan
hoặc tương tự như nghệ thuật hát bội. Vì lẽ trong một số nghi lễ đặc biệt,
phương pháp mang y phục nhiều màu sắc, đôi khi mang cả mặt nạ, tay và chân đồng
thời kết hợp các điệu múa đặc thù, gọi là Kim Cang Thủ. Mãi đến hôm nay, hình
thức trình diễn nghi lễ tôn giáo này vẫn còn được duy trì trong một số bộ phái
Mật tông.
Từ những khảo chứng trên đã cho thấy rằng Phạm
bối, là một cách gọi của từ Ca bối lúc ban đầu được dịch là Hát bối, theo thời
gian và ảnh hưởng bởi ngữ âm địa phương, cũng như sự chuyển nghĩa của từ. Hát bối
đã được đọc trệch thành Hát bội. Từ cơ sở này đã cho thấy Phật giáo nói chung,
và nghệ thuật phạm bối của Phật giáo nói riêng, là một trong những chất liệu
làm nền tảng để hình thành nên ngành nghệ thuật đặc thù nầy./.
(Lý giải
nguồn gốc Phật giáo của hai chữ “hát bội”- Hoằng Quảng- NSGN – 249- 12/ 2016.)
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét