THẤY KHỔ RỒI VƯỢT KHỔ
Thanissro
nói rằng : “Tôi tin rằng mỗi người đều không có sự lựa chọn nào khác là đối mặt
với những khó khăn, bức bách của riêng mình; chúng ta phải tìm ra lối thoát cho
chính mình vậy”.
Câu nói:
“Đời là bể khổ” trở nên quen thuộc với tất cả chúng ta. Những điều không như ý,
bất toàn là hiện thân của cái khổ mà ta gặp hầu như mỗi ngày. Như vậy, khổ là một
chất liệu không thể thiếu làm nên cuộc sống đầy sắc màu sinh động này và chắc
chắc là ta không thể nào tránh né chúng. Chính vì vậy, trọng tâm bài pháp đầu
tiên Đức Phật chia sẻ với năm người bạn đồng tu là khổ và con đường diệt khổ.
Điều đầu tiên trên tiến trình này là nhận rõ diện mạo của khổ đau. Nếu không cảm
nhận được cái khổ đang thống thiết bức bách mình, sẽ không có ai tìm cách để
thoát khổ. Đây là một sự thật được Đức Phật chứng minh hùng hồn qua cuộc từ bỏ
vĩ đại của Ngài: Từ bỏ những gì cao quý
nhất của trần gian là cung vàng điện ngọc để đi tìm con đường thoát khỏi những
giới hạn giam hãm kiếp người. Thái tử nhận ra cái khổ ở các phương diện bức
bách, tù hãm, căng thẳng, bất an thường trực của già, bệnh và chết đè nặng lên
kiếp sống nhân sinh. Thế rồi, hoàn toàn đối lập hình ảnh một người đạo sĩ thanh
thoát dạo trước cổng thành như một tia nắng léo lên trên bầu trời u ám mây đen
đã vực dậy tâm lý nặng nề ấy, thắp sáng động lực ra đi tìm cách cởi bỏ những
ràng buộc nơi Thái tử Siddhattha. Sự ra đi lịch sử ấy, hành trình tìm đạo và
thành đạo vô tiền khoáng hậu của Đức Phật bắt đầu từ chuỗi tâm lý thấy khổ rồi
vượt khổ, nỗ lực tinh cần đúng để đi đến thành công. Trên cơ sở nhận thức này,
toàn bộ những lời dạy trong sự nghiệp hoằng pháp của Ngài đặt trên trục xoay của
giáo lý về khổ và con đường diệt khổ.
Từ trải
nghiệm thực tế đó, Đức Phật đã xây dựng một hệ thống giáo lý vô cùng đặc sắc,
trở thành “thương hiệu” của đạo Phật, đó là giáo lý Tứ diệu đế. Giáo lý về khổ
và sự diệt khổ. Đây là giáo lý nền tảng giàu giá trị nhân văn, đem lại bình an
hạnh phúc bằng sự nỗ lực tự thân. Một sự thật không thể phủ nhận, giáo lý Tứ diệu
đế là một sự đóng góp tuyệt vời của Đức Phật với cuộc đời này. Mọi sự cởi trói
chỉ có thể thực hiện khi người bị trói hiểu rõ: “ mình đang bị trói buộc” và cảm
thấy vô cùng ngột ngạt, bức bách tột cùng với sự trói buộc này đến mức bằng mọi
giá, phải tìm cách vượt thoát.
Chạm mặt
khổ đau :
Đau khổ là chất liệu làm nên cuộc sống. Không
khổ đau sao được khi ý chí, nguyện vọng và mọi nỗ lực của con người trở nên nhỏ
bé và bất lực trước sự chi phối của già,
bệnh, chết và những điều trái ý nghịch lòng cứ tác động đến thân phận của một
kiếp người. Điều quan trọng là ý thức rõ những bức bách, nặng nề, căng thẳng, bất
an, hụt hẫng, thất vọng và chán nản, khi chạm mặt với già, bệnh, chết và những
điều không như ý trong cuộc sống mà con người không thể can thiệp. Khi ấy, với
người biết suy tư, tâm lý hụt hẫng, chông chênh, chấn động khởi lên trong tâm
vì thấy kiếp người thật vô nghĩa, và tâm lý vực dậy để đi tìm pháp vượt thoát.
Đức Phật đã trải nghiệm đầy đủ các cung bậc cảm xúc như thế. Sau khi dạo bốn cửa
thành. Thái tử Siddhattha trở về hoàng
cung với tâm lý buồn bả ưu tư. Khi gặp một
người già, người bệnh, người chết, tâm lý Thái tử nặng nề, choáng sốc, bất an,
căng thẳng để rồi Ngài luôn suy tư, trăn trở về cuộc sống vô nghĩa của một kiếp
người. Phải chăng sống để trải qua các giai đoạn thay đổi để rồi kết thúc bằng
cái chết? Dù sống trong cung vàng điện
ngọc, như bao con người khác, cơ thể sinh học của Ngài cũng sẽ trải qua các
giai đoạn biến chuyển như thế. Từ đó, Thái tử thấy cần phải tìm lối thoát ra khỏi
ngục vàng, khi chạm mặt với ba sự thật không thể thay đổi của cuộc đời là già, bệnh và chết. Thái tử trầm tư thân phận
của con người và trải qua các cung bậc cảm xúc để rồi chuỗi tâm lý này trở
thành tác nhân kích thích sự ra đi vĩ đại tìm chân lý của Ngài.
Quyết
tâm vượt thoát khổ đau.
Sau cảm xúc buồn bả ưu tư về kiếp sống con
người, nằm trong vòng xoay của sanh, già , bệnh chết, tiếp theo sau nhằm vực dậy
tâm lý trầm uất, buồn nản và cảm giác vô vị đem lại. Cảm xúc của Thái tử
Siddhattha khi gặp vị Sa môn du hành ngoài cung điện, một dáng đi ung dung từng
bước thảnh thơi, trông rất thanh thoát, bình an đã đánh động tâm trạng nặng
trĩu khi thấu hiểu những bức bách, bất lực trước sự chi phối của già, bệnh, chết
để rồi khát khao tìm đường giải thoát khỏi cái tâm lý tiêu cực đè nặng ấy lại
trổi dậy mạnh mẽ. hơn bao giờ hết. Trong tâm Ngài léo lên tia sáng, tin chắc có
con đường thoát khỏi sự già, bệnh, chết. Có con đường vượt lên trên sự chi phối
của già, bệnh, chết, chứ không phải ngõ cụt bế tắc. Thái tử Siddhattha đã ý thức
rõ ràng tình trạng nguy hiểm của thân phận con người, và ý thức về một con đường
thoát khỏi tâm lý đè nặng do già, bệnh, chết đem lại và tin tưởng có một con đường
đưa đến thành công là cơ sở để Ngài tìm đạo, tu đạo, thành đạo và hành đạo.
Có ba chuỗi tâm lý. Thứ nhất, tâm lý hướng đến
một đời sống cao quý thay vì bằng lòng với cuộc sống phù du tạm bợ vô nghĩa
xoay vần quanh sự hưởng thụ vật chất thấp kém ta đang hụp lặn trong đời sống ấy
để rồi chết trong vô nghĩa. Đây là khởi điểm cho mọi sự thay đổi tích cực. Có
hai hướng cho người đang ngụp lặn trong khổ đau: Hoặc là vượt thoát để ra khỏi (tích cực và tươi sáng), hoặc cam
phận để bị nhấn chìm trong khổ đau ấy (tiêu cực và bế tắc). Người bị vô minh
bao phủ sẽ không có nhu cầu ra khỏi dòng khổ, hoặc không tìm được hướng ra nên
cái kết đắng cay cho họ là mãi trầm luân trong sanh tử luân hồi. Người như thế
thì tâm lý không đủ mạnh để hướng tâm đến một đời sống cao quý.
Ý nghĩa thứ hai: là tin vào bản chất thiện
lành vốn có của mỗi người, dành trọn tâm ý hướng về lối sống đầy từ bi và trí
tuệ để mong tìm ra một giải pháp thoát khỏi mê mờ, tối tăm trước đó. Điều này
có nghĩa rằng, chúng ta tin vào tiềm năng hướng đến một chân trời tươi sáng của
mình và phát huy nó, làm thay đổi cuộc đời mình một cách ngoạn mục để thoát khỏi
cảnh khổ đau phải chịu đựng trong một thời gian dài. Chính Đức Phật là người
tiên phong và thành công trong quá trình kích hoạt các hạt giống thiện lành trong tâm thức để cuối cùng,
trang bị cho mình đủ dũng lực để vượt thoát sự chi phối của già, bệnh, chết. Ý
nghĩa cuối cùng là tin vào sự nỗ lực đúng cách của bản thân sẽ giúp chúng ta
tìm được con đường để thoát khỏi sự bức bách, nhiệt não và bất an. Chuỗi tâm lý
này là giai đoạn phát triển tiếp theo của chuỗi tâm lý. Sự thành công của Đức
Phật trong quá trình nhận ra bản chất cuộc sống, tìm đạo, tu đạo và thành đạo
là một điển hình sinh động cho sự tự
thân vận động trong quá trình tu chứng. Sự nỗ lực đúng cách của mỗi cá nhân được
Đức Phật khuyến khích, nhắn nhở, bằng những cách khác nhau và ở các mức độ khác
nhau trong tất cả các bài pháp.
Trên cơ sở các chuỗi tâm lý, Đức Phật luôn
chánh niệm tỉnh giác về khổ đau và con
đường thoát khổ. Ngài dạy : “Thời gian lặng lẽ trôi, không luận ngày hay đêm,
già và chết đang đến gần. Nếu ai sợ hãi già và chết thì hãy sớm tạo công đức
lành,, bỏ đi vật chất thế gian và hướng đến nếp sống an tịnh viễn ly”.
Hai chuỗi tâm lý làm động cơ ban đầu và nguồn
năng lượng nuôi dưỡng ý chí và nghị lực cần thiết cho sự thành tựu quả vị giác ngộ của Đức Phật. Ngài không cam
phận ngồi đó giao nộp mình cho già chết, không tránh né để thọ hưởng vật chất
thế gian trong cung vàng điện ngọc. Ngài hướng đến tìm con đường để thoát khỏi
già bệnh chết, để không bị vật chất thế gian ràng buộc với niềm tin vững chắc
vào một nếp sống thanh cao, tâm giải thoát và sự nỗ lực không ngừng cho đến khi
thành tựu. Đây là cơ sở để Đức Phật nhận thức sâu sắc, thấu triệt bản chất bốn
chân lý cao thượng (Tứ diệu đế) và giảng dạy giáo lý ấy cho những người có
duyên.
Khổ
của già, bệnh, chết kích hoạt tâm lý vượt khổ.
Có thể nói tuyên ngôn hoằng pháp của Đức Phật
được gói gọn trong lời dạy mang tính kinh điển rằng: “Này các Tỳ kheo, Như Lai
chỉ nói về khổ và sự diệt khổ”. Rõ ràng là việc chỉ rõ và nhấn mạnh cái khổ là
điều cần thiết để đánh động tâm lý, kích hoạt ý chí mong muốn vượt thoát và tìm
đường vượt thoát, từ đó nỗ lực đúng cách và đúng mức để đạt đến đích. Nếu nhận
thức đầy đủ và toàn diện vấn đề, thật là phiến diện và thiếu cơ sở khi nói đạo
Phật bi quan chỉ vì Đức Phật nói về khổ được thể hiện qua tướng già, bệnh và chết.
Thật ra, đây là một sự thật cần thiết làm tiền đề cho một giải pháp tích cực và
lạc quan. Nhận thức được bản chất của khổ đau, của già bệnh và chết đang mỗi
lúc một gần là điểm nhấn cần thiết để tạo nên sự chấn động tâm thức, nhờ vậy
mói có thể tìm phương hướng ra khỏi sự bức bách ấy.
Bản chất về Khổ đế được Đức Phật nhấn mạnh
trong thời Pháp đầu tiên sau khi Ngài thành đạo và giảng cho năm anh em Kiều Trần
Như, được ghi lại trong bài kinh Chuyển pháp luân như sau: “ Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết
là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu
không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ” (Tương ưng bộ kinh, tập V).
Ở một bài kinh khác, Đức Phật dùng hình tượng sinh động của các hòn núi khổng
lồ đang lăn dần về phía mình chỉ cho sự già và chết đang mỗi lúc đến gần chúng
ta hơn cốt để đánh thức tâm thức chúng
ta. Ngài nói, ví như các hòn núi từ bốn phương Đông, Nam, Tây, Bắc đang lăn dần
về phía chúng ta. Trên đường lăn, nó cuống phăng, đè bẹp và nghiền nát mọi thứ,
các hòn núi đó là già, bệnh và chết. Để không quá trễ, trước khi bị chúng nghiền
nát, chúng ta hãy sống đúng pháp, sống chơn chánh, làm các hạnh lành, tạo các
công đức.
Chúng ta đang già đi trong từng tích tắc thời
gian, nhưng sẽ không biết cái chết sẽ đến với mình khi nào. Vì lẽ đó, một người
thực hành pháp nghiêm túc sẽ giật mình vì điều này và sống trọn vẹn với từng
sát na trong hiện tại dạt dào ý nghĩa, không truy tìm quá khứ đã qua, không mơ
tưởng tương lai chưa đến. Trong bài kinh Nhất dạ hiền giả, Đức Phật dạy: “Quá khứ đã qua rồi, không nên truy tìm,
tương lai thì chưa đến, không ước vọng.
Chỉ có hiện tại nhiệm mầu, nên dốc tâm tu tập ngày hôm nay. Không ai biết được
khi nào thần chết đến. Cứ nhiệt tâm thực hành pháp suốt đêm ngày không biết mệt
mỏi như vậy, hành giả xứng đáng được gọi bậc Nhất dạ hiền, an tịnh, trầm lặng”.
Chỉ khi nào tâm chúng ta bị dao động do thấy
uy lực lớn của già và chết, còn mình thì hoàn toàn bất lực không can thiệp được
gì, chúng ta mới thấy có ba việc cấp thiết cần phải làm trước khi thần chết đến.
“Sử dụng thời gian của mình để chấp hành tăng thượng giới học, chấp hành tăng
thượng tâm học, chấp hành tăng thượng tuệ học. Nhờ vậy, tâm được giải thoát khỏi
các lậu hoặc, không có chấp thủ trong hiện tại cũng như tương lai”
Sống ở đời,
những điều không tránh khỏi tạo nên nỗi sợ hãi và bất an thường trực. Do đó, cần
phải tận dụng thời gian và chuyển nguồn năng lượng sợ hãi ấy vào những việc làm
có lợi ích cho cuộc sống của mình trở nên có giá trị trong hiện tại và ở tương
lai. Cũng ngần ấy thời gian trong ngày, nếu không làm việc có ích, ắt ta làm việc
vô ích. Cũng ngần ấy thời gian trong cuộc sống, nếu không thể sống với tâm an lạc,
thì phiền não khổ đau sẽ choán hết tâm trí và lấy đi trọn vẹn thời gian sống. Bằng
sự trải nghiệm bản thân. Đức Phật luôn khuyến tấn các đệ tử: :Hãy đứng dậy, hãy
ngồi dậy, đừng ham ngủ, nếu không, sẽ trúng mũi tên phiền lụy. Hãy đứng dậy,
hãy ngồi dậy, hãy kiên trì học tập, đạt cho được an tịnh, đừng để cho thần chết,
biết người là phóng dật, sẽ mê hoặc, chinh phục ngươi. Hãy vượt ái dục này, chớ
để thời khắc qua. Khi thời khắc đã qua, bị sầu khổ địa ngục” (Kinh tập ).
Cái chết
có thể đến bất cứ lúc nào, do nguyên nhân gì vẫn còn là ẩn số đối với chúng ta.
Nghĩ đến điều này chỉ có một con đường duy nhất cho những ai quyết tâm sống một
đời không uổng phí: Siêng năng, phấn đấu không ngừng nghỉ, trọn ngày trọn đêm
trên con đường hành trì pháp. Đức Phật dạy cần quán sát thấy rõ năm nguyên nhân
đưa đến cái chết không biết trước này, cũng đã quá đủ để một vị Tỳ kheo sống ở
rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần để chứng đạt những gì chưa chứng đạt,
để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
“Khi ta sống một mình trong rừng, rắn, bò cạp, rít có thể cắn ta chết. Khi ta sống
một mình trong rừng, ta có thể vấp ngã và té xuống, do ăn uống ta có thể mắc bệnh
mà chết. Sống một mình trong rừng, ta chung sống với các loài thú nguy hiểm,
như sư tử, cọp báo, gấu, dã can và bị chúng cắn mà chết. Trong khi ta sống một
mình trong rừng, ta chung sống với các loài ăn trộm, ăn cắp đã thành nghề,
chúng có thể đoạt mạng sống của ta. Ở trong rừng có những loài phi nhân nguy hiểm,
chúng có thể đoạt mạng sống của ta. (Tăng chi bộ kinh) .
Một khi ý thức được già, bệnh và chết đang đến
mỗi lúc một gần hơn, hành giả tận dụng thời gian và điều kiện đang có thể tu học
là điều cần thiết. Đức Phật ân cần khuyên nhắc: “Hãy siêng năng tinh tấn khi còn trẻ và chưa bị già chinh phục, khi còn
khỏe chưa bị bệnh chinh phục, khi no đủ chưa bị đói kém, mất mùa chinh phục,
khi loài người sống với nhau thuận hòa, hoan hỷ với nhau, không cãi lộn nhau mà
không phải lúc loạn lạc, khi chúng Tăng hòa hợp, cùng nhau hoan hỷ, không tranh
luận nhau, sống thỏa mái cùng nhau chung một lời dạy chứ không chia rẽ” (Tăng chi bộ kinh).
Tâm lý thường tình của con người là sống với nhiều dự
tính như thể ta sống mãi với thời gian này! Trong tâm thế đó, nhiều người nghĩ
mình cứ trẻ hoài và khỏe mãi, còn già, bệnh
và chết nếu có đến thì với người
khác, mà chưa đến với mình. Nếu có đến với mình chăng, thì còn lâu lắm vì hiện
tại, ta còn đang thừa trẻ và dư khỏe. Chỉ khi nào hiểu rõ ta thật sự yếu đuối
và vô dụng trước vô thường, chúng ta mới thấu hiểu lời Phật dạy rằng, khi thấy
rõ con người không thể vượt qua già, bệnh, chết, sự kiêu mạn của tuổi trẻ trong
tuổi trẻ được đoạn trừ hoàn toàn sự kiêu mạn của không bệnh trong không bệnh được
đoạn trừ hoàn toàn, sự kiêu mạn của sự sống trong sự sống được đoạn trừ hoàn
toàn (Tăng chi bộ kinh). Dứt kiêu mạn về tuổi trẻ và sức khỏe mới đặt mình vào
quỹ đạo thực hành pháp và sống trọn vẹn với pháp.
Thay lời
kết : Sau khi thành tựu đạo
quả, bằng kinh nghiệm bản thân, Đức Phật dốc tâm dạy cho các đệ tử phải biết
quán chiếu những nỗi khổ của già, bệnh và chết mà con người đang gánh chịu,
không có lối thoát, không có quyền chọn lựa. Khi biết rõ không thể thay đổi hiện
tượng khách quan này, Đức Phật dạy chúng ta phải có sự thay đổi trong nhận thức
và thái độ để giải thoát tâm ra khỏi sự ràng buộc, bức bách này. Tâm vững chãi,
an tịnh trong thiền định có khả năng làm chủ tâm ý, làm chủ dòng cảm xúc để
không bị các pháp bên ngoài chi phối, là cơ sở để tự cởi trói mà thuật ngữ nhà
Phật gọi là “giải thoát”.
Tuy nhiên,
mức độ giao động của tâm và khả năng
kích thích tâm để có thể thấy ra vấn đề và tìm cách giải quyết ấn đề còn tùy
thuộc vào mức độ nhận thức, giác ngộ và nỗ lực của mỗi cá nhân.
Trong Tăng
chi bộ kinh, Đức Phật mô tả về bốn hạng người với bốn mức độ cần khiến tâm giao
động và được kích hoạt để tìm đường vượt thoát khổ đau. Hạng người thứ nhất, chỉ
nghe người khác bệnh, già hoặc chết, tâm người ấy đủ bị dao động và kích thích
rồi. Hạng người thứ hai cần phải trực tiếp thấy tận mắt các hiện tượng ấy mới sợ
hãi, tâm mới dao động và bị kích động. Hạng người thứ ba là khi thân trải qua các cảnh già, bệnh và chết thì mới tỉnh ngộ, tâm
dao động và bị kích động. Và hạng người
thứ tư, khi chính bản thân họ trực tiếp
trải nghiệm đau đớn khổ sở của già, bệnh và cận kề cái chết thì mới hoảng hốt,
tâm dao động và bị kích động (Tăng chi bộ kinh). Chỉ khi nào duyên bên ngoài
tác động đủ mạnh để tâm thức bị kích động thì chúng ta mới có động cơ để tinh cần
trên con đường hành trì giáo pháp, chuyển hóa nội tâm.
Thật ra,
chúng ta không có đủ thời gian, năng lượng và cơ hội để đem thân mình ra trải
nghiệm mọi thứ trên cuộc đời rồi mới có được bài học và để tâm thức được kích
hoạt. Do đó, chúng ta cần rút kinh nghiệm thông qua sự trải nghiệm của người
khác. Nếu chỉ cần thấy già, bệnh và chết là “những thiên sứ” (Kinh Thiên sứ, Trung bộ kinh) mang thông điệp
vô thường đến, ta dốc sức tinh cần, tinh tấn trên con đường tu đạo thì sẽ được
nhiều lợi ích và kết quả ngay trong hiện tại. Được như vậy, ta không phải làm
những phép thử và trả giá đắt, không phải đi lòng vòng mà rút ngắn được thời
gian. Rút thời gian rong rêu trong một kiếp cũng đồng nghĩa với việc rút ngắn
vòng luân hồi sanh tử và đây là mục đích của mỗi người học pháp và hành pháp vậy.
Thấy bị
trói, cảm nhận được sự bức bách, bất an vì bị giam hãm trói buộc mới nghĩ đến việc tìm cách cởi trói. Thấy khổ rồi
mới có thể vượt khổ. Càng học pháp, càng chiêm nghiệm sự vận hành các pháp
trong chánh niệm, chúng ta càng nhạy bén với các hiện tướng già, bệnh, chết thì
càng sớm tỉnh ngộ, càng có cơ hội để sống một cuộc đời nhiều ý nghĩa trên lộ
trình tu tập và giải thoát. Con đường tu tập bắt đầu với cảm xúc, rồi được nuôi
dưỡng thường xuyên phát triển chuỗi tâm lý phức hợp này trong sự cân đối giữa từ
bi và trí tuệ để đi đến cứu cánh giải thoát. Sự thể nhập và hòa quyện giữa trí
tuệ và từ bi có thể đạt được rốt ráo, đưa hành giả thoát khỏi cuộc sống vô
nghĩa này và giải thoát ra khỏi sự giam hãm của vòng luân hồi vô tận nhờ vào sự
phát triển của chuỗi tâm lý./.
Trích:
NSGN số 249 -12. 2016 – Liên Trí.
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét