TỪ TÂM
Ở thế gian, đè bẹp được người mình ghét được
xem là chiến thắng, nhưng trong Phật Pháp thì không nổi giận với kẻ thù mới
chính là chiến thắng.
Từ Tâm là cách tốt nhất để trau dồi khả năng
Kham Nhẫn, tức khả năng chịu đựng trước mọi người, mọi vật và mọi việc. Đây là
lý do vì sao Đức Phật dạy rằng một người có Từ Tâm đúng mức luôn thương lấy
muôn loài bằng tấm lòng của một người Mẹ đối với đứa con duy nhất của mình.
Đức Phật dạy rằng, Người Kham Nhẫn có được năm
lợi ích là:
- Được nhiều người mến thương,
- Tránh được nhiều nguy hiểm tai họa,
- Ít mắc lầm lỗi tức không làm gì để mình phải
hối hận,
- Dễ giữ được bình tĩnh lúc Cận Tử
- Và khả năng sinh thiên cũng cao hơn người
bình thường. (Kinh Akkosasutta, Tăng Chi Bộ Kinh)
Hành
giả tu tập đề mục Từ Tâm phải tự ý nhận thức cái hại của Tâm Sân và cái lợi của
Từ Tâm và Kham Nhẫn chứ không phải chỉ đơn giản là cầu Công Đức khi tự mình
chưa thấy sợ cái nguy hiểm của Tâm Sân, của việc thiếu Kham Nhẫn.
Lòng Từ Mẫn là mở lòng ra để thương chứ không
phải siết chặt vòng tay để ôm. Khi ta Tham hay Sân đều giống hệt như ta đang bỏ
tù chính mình. Đặc biệt với Tâm Sân, căm ghét một người chẳng khác nào uống
thuốc độc mà mong người khác chết. Đã có nhiều chứng minh khoa học cho thấy kẻ
Tham và Sân đều gây nên những hiệu ứng bất lợi cho tim mạch và huyết áp, nhưng
Tâm Từ Mẫn thì luôn giúp cho mọi áp lực sinh lý của ta được lắng yên, buông xả.
Đó là chưa nói đến những giá trị tâm linh hay công đức cho đời sau kiếp khác.
Người có học giáo lý khi hành trì pháp môn Từ Tâm có thể dùng sự hiểu biết của
mình để có được những nhận thức sâu sắc về tánh Vô Ngã của Danh Sắc. Nhờ đó,
chỉ riêng trong pháp môn Từ Tâm họ cũng dễ dàng kiểm soát được tâm trạng của
mình.
Khi nhìn về bản thân mình hay đối tượng khiến
mình nổi giận, với nhận thức sâu sắc về Uẩn (5 Uẩn), Giới (18 Giới), Xứ (12
Xứ), (sự lắp ráp của 32 thể trược), hành giả sẽ có cảm giác mình đang đóng đinh
hay đâm một nhát dao lên nền trời xanh. Không có một thực thể nào tồn tại quá
một sát-na để ta có thể ghim sâu cắm chặt lòng oan trái của mình vào đó. Lòng
Từ thật sự là một thứ tình thương không điều kiện, không trong đợi một mục đích
nào.
Thương chỉ là thương, không dính mắc ái luyến,
chỉ chân thành mong cho muôn loài được an lành không đau khổ. Chỉ cần có một
chút mục đích tư lợi dầu là lợi ích hiện tại hay quả báo đời sau thì lòng từ ấy
không còn là Vô Lượng Tâm nữa rồi. Ngay trong tình mẫu tử cũng vậy, có lúc Mẹ
đối với con bằng Từ Tâm, có lúc bằng lòng Ái Luyến. Từ Tâm thì sạch sẽ lắm và
rất dễ dàng kết hợp với Xả Tâm, lo được thì lo, không bực mình lúc bất toại.
Còn lòng Ái Luyến thì khác nhiều lắm, miệng nói là thương nhưng cứ mong người
ta hành động như ý mình. Như vậy Từ Tâm là tháo cởi mà Ái Luyến là trói buộc.
Lòng Từ
là sự trao ra không trông đợi hồi đáp. Còn trông đợi phản ứng của cuộc đời thì
lòng Từ của ta chưa thật sự là Vô Lượng Tâm. Chịu đựng bằng sức mạnh nào, điểm
tựa tinh thần nào đi nữa cũng không An Lạc thoải mái bằng sự chịu đựng với Từ
Tâm. Trong đắng vẫn thấy ngọt, trong khổ vẫn thấy vui, như bà mẹ có thể mỉm
cười với đứa con hư.
Bản
chất của Từ Tâm là sự mát mẻ nên Hành giả không bao giờ sống hay hành động theo
cách đốt nóng mình hay người khác. Khi nhận ra mình đang sống đốt nóng bản thân
hay người khác thì hành giả phải tự hiểu mình đã đi sai đường. Bản chất của Từ
Tâm là tha thứ, bao dung và tháo cởi nên hành giả tu tập đúng mức thì không bao
giờ có ý niệm áp bức, chèn ép hay khống chế bất cứ ai. Bản chất của Từ Tâm là
tháo cởi nên hành giả luôn sống tự tại và chỉ muốn nhìn thấy người khác được tự
do.
11 Quả lành của Hạnh Từ Tâm:
1.
Ngủ được an giấc
2.
Thức dậy được khỏe khoắn
3.
Ngủ không thấy ác mộng
4.
Được mọi người thương mến
5.
Được quỷ thần và chư thiên thương mến
6.
Được sự hộ trì của chư thiên
7.Nếu không bị ác nghiệp nghiêm trọng thì nhờ Từ Tâm mà tránh được sự sát thương từ hỏa hoạn, vũ khí và thuốc độc
8.
Khả năng nhập định sẽ mau lẹ hơn
9.
Mặt mũi sáng sủa, dễ nhìn
10. Lúc
lâm chung được tỉnh táo
11. Nếu chưa chứng Bất Lai thì cũng có khả
năng sanh về cõi Phạm Thiên. Đức Phật dạy rằng để không mắc nợ bữa ăn của các
thí chủ cư sĩ, trước khi thọ thực, vị Tỳ Kheo nên dành ra một tí thời gian
tương đương với thời gian của một tróc tay để an trú Từ Tâm. Bữa ăn đó sẽ đem
lại công đức lớn cho thí chủ.
Đó là một kiểu đáp đền cho họ và bản thân vị
Tỳ Kheo cũng thọ thực với tư cách một người cho chứ không phải là một người
nhận nữa.
🌾Nguồn: Kinh Nghiệm Tuệ Quán, tập 2. Sayadaw U
Indaka.
TK. Giác Nguyên dịch.
{¯{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét