CÔNG NĂNG THẦN DIỆU CHÚ
ĐẠI BI
Sức mạnh của chú Đại Bi thật không thể nghĩ
bàn, sự kỳ diệu của chú Đại Bi thật không thể nghĩ bàn, sự cảm ứng của chú Đại
Bi, thật không thể nghĩ bàn.
Chư Phật và Bồ tát vì thương xót chúng sanh, thương xót người tu hành,
muốn cho chúng sanh yên ổn, cho người tu hành, công đức Lục độ Ba la mật chưa
đầy đủ mau đầy đủ; mầm Bồ đề chưa phát mau phát… Nếu chúng sanh nào chưa được
tín căn Đại thừa, do sức oai thần của Đà La Ni này tự sanh mầm và tăng trưởng.
Lại do sức từ bi phương tiện của ta, khiến cho sự mong cầu của họ đều được
thành tựu.
Chú Đại Bi này có công năng trừ tai tiêu họa
cho chúng sanh, đem lại sự kiết tường. Niệm chú Đại Bi 5 biến, rồi lấy chỉ ngũ sắc se làm sợi miệt, ngũ
sắc tức năm màu : xanh (dương), vàng, đỏ, trắng và đen. Màu xanh tiêu biểu cho
phương Đông, màu đỏ tiêu biểu phương Nam, màu trắng tiểu biểu phương Tây, màu
đen tiêu biểu phương Bắc; màu vàng tiêu biểu Trung ương. (Đông, Nam, Tây, Bắc
và ở giữa) gọi là ngũ phương.
Trì chú
này 21 biến và thắt 21 gút trên sợi dây ngũ sắc, xong cho đeo nơi cổ có
công năng tiêu trừ ác chướng, đem lại sự may mắn bình an.
Năm
biến là tiêu biểu cho năm bộ, năm bộ này cai quản cả năm đại ma quân (Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung ương) của
thế gian. Ma cũng có Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung ương. Ngũ bộ thống nhiếp Ngũ
Đại ma.
Ngũ
Đại Bộ :
-Phương
Đông là A Súc Bộ, còn gọi là Kim Cang Bộ
-
Phương Nam là Bảo Sanh Bộ,
-
Phương Tây là Liên Hoa Bộ,
-
Phương Bắc là Yết Ma Bộ,
-
Trung ương là Phật Bộ.
Lục
Độ Ba La Mật :
Gồm Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và
Trí tuệ.
-
Bố thí chế ngự lòng tham
-
Trì
giới chế ngự hủy phạm
-
Nhẫn
nhục chế ngự nóng giận
-
Tinh
tấn chế ngự giải đãi
-
Thiền
định chế ngự tán loạn
-
Trí tuệ
chế ngự ngu si.
Bản chất con người vốn có lòng tham nên phải
thực hành Bố thí, vậy không có tâm tham
thì càng nên bố thí. Thực hành bố thí
thì không còn tâm tham lam keo kiệt.
Trì giới,
là để chế ngự sự hủy phạm sự tốt lành, sự thanh tịnh đem lại an vui lợi
ích. Trì giới sẽ giữ được quy cũ, người không giữ quy cũ, chính là người không
giữ giới, người không giữ giới chính là người không tin Phật pháp, không tin
nhân quả. Sau khi Phật nhập diệt, giới luật chính là Thầy của đệ tử Phật. Vậy
không giữ giới là không phải đệ tử của Phật.
Nhẫn nhục chế ngự lòng nóng giận, không có tâm
ích kỷ thì sẽ không có sự nóng giận, không nóng giận chính là tu hạnh nhẫn
nhục.
Tinh tấn là để chế ngự tâm giải đãi, lười
biếng. Có câu ngạn ngữ rằng “Trên bước đường thành công, không bao giờ có bước
chân người làm biếng”. Vậy tinh tấn là điều kiện cần có để đưa đến thành công.
Thiền định là để chế ngự tâm tán loạn, tâm ý
nghĩ vẫn vơ theo đuổi vọng tưởng, sanh tâm phan duyên. Thì thiền định sẽ đối
trị được tâm tán loạn phan duyên. Khi tâm ý được ổn định thì mọi việc làm đều
thành công. Trong nhà thiền có câu “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện”, nghĩa là
chế ngự tâm lại một chỗ việc gì cũng xong.
Trí tuệ phá trừ vô minh, ngu si. Trong ba môn
tu học: Giới, Định, Tuệ. Tuệ là phần quan trọng đứng hàng đầu của hai môn trước
giới và Định. Nếu có Giới có Định mà không có Tuệ thì Giới và Định dễ rơi vào
Tà giới, Tà Định. Vì thế việc tu học cần phải có Trí tuệ. Trí tuệ sẽ phá trừ
ngu si vô minh. Trí tuệ ví như ánh sáng, vô minh như bóng tối. Ánh sáng sẽ xóa
tan bóng tối. Trí tuệ cũng như vậy.
Trong lục độ gồm: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục,
Tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ. Năm chi trước nếu không có chi cuối là Trí tuệ
dẫn dắt, định hướng thì năm việc trước trở thành vô nghĩa, đối với công hạnh Bồ
tát hướng đến con đường giải thoát giác ngộ.
Những chúng sanh ở nơi ba đường ác, ở chỗ sâu
kín tối tăm, nghe được thần chú của ta đây, đều được lìa khổ. Hạng trời, người
thường thọ trì tâm chú này, như tắm gội sông, hồ, biển cả. Nếu chúng sanh ở
trong đó được nước tắm gội của người này thấm nhuần thân thể, thì bao nhiêu
nghiệp nặng tội ác thảy đều tiêu diệt, liền được sanh về tha phương Tịnh độ.
Hóa sanh nơi hoa sen, không còn thọ thân thai sanh, noãn, thấp nữa. Các chúng
sanh ấy chỉ nhờ chút ảnh hưởng mà còn được như thế, huống chi là chính người
trì tụng? Như có người trì tụng chú đi trên đường ngọn gió, gió thổi qua người
dưới ngọn gió, nếu chúng sanh ở sau ngọn gió của người ấy, thì tất cả ác nghiệp
chướng nặng thảy đếu tiêu tan, không còn đọa vào tam đồ thường sanh ở trước chư
Phật. Cho nên, phải biết quả báo phước đức của người trì tụng chú thật không
thể nghĩ bàn.
Người trì tụng Đà La Ni này: Trì chính là ý
nghĩa kiên trì, trì tụng là không gián
đoạn. Hôm nay tụng ngày mai nghỉ như vậy không gọi là trì; hoặc nay tụng 21
biến ngày mai tụng ba biến, cũng không gọi là trì. Mà hôm nay tụng 21 biến,
ngày mai tụng 21 biến, tụng không gián đoạn như vậy gọi là “trì”. Còn “tụng” chính là không cầm kinh, không cầm
chú mà vẫn niệm được chú Đại Bi. Lại có người nói tôi thuộc rồi tôi không cần
trì tụng, như vậy cũng không phải trì tụng. Mà nhất định cần phải sáng tối tu
hành như vậy không gián đoạn, một mảy may đều không lười biếng, không tâm giải
đãi, đây mới gọi là trì tụng.
Đà La Ni chính là “tổng trì”, Tổng trì là
“Tổng nhất thiết pháp, trì vô lượng nghĩa”, cũng chính là tam nghiệp thanh
tịnh. Tu thân, khẩu, ý thanh tịnh. Thân không sát sanh, trộm cắp, tà hạnh; Tâm
không tham, sân, si; Miệng không ác
khẩu, không nói dối, không nói lời thêu dệt, không nói lưỡi đôi chiều. Đây mới
chính là trì tụng Đà La Ni.
Khi chúng ta nói lời ác, hoặc ý nghĩ việc bất
thiện, thì thần lực của chú Đại Bi bị gián đoạn, năng lượng tâm từ bi bị giảm
sút, vì thế ba nghiệp cần phải giữ cho
thanh tịnh. Ba nghiệp thanh tịnh sẽ được cảm ứng với chư Phật. Chư Phật quá khứ
đều phát nguyện rằng: “Những ai trì tụng chú Đại Bi, tôi sẽ ủng hộ người đó
giống như ủng hộ mười phương chư Phật vậy”. Người tụng chú Đại Bi, nên biết
người ấy chính là Tạng từ bi, là người có lòng từ bi, vì thường dùng Đà La Ni
cứu độ chúng sanh, khiến tất cả chúng sanh xa rời đều xa rời khổ đau đến bờ an
lạc, tiêu tai tật bệnh, tội diệt phước sanh.
Nên biết người ấy là tạng vô úy, là người
không có sợ hãi, vì thiên, long, bát bộ thường theo hộ trì. Người ấy không bị
tam tai làm hại. Tam tai là thủy tai, hỏa tai và phong tai, tức nạn nước, lửa
và gió. Hằng ngày trên thế giới chúng ta luôn nghe thấy các tai nạn này xảy ra.
Như lũ lụt, hỏa hoạn cháy nhà, cháy kho, cháy rừng, núi lửa phun trào; động đất, sóng thần. Phong tai như gió xoáy,
cuồng phông, giông tố, bão tố. Ba loại thủy tai, hỏa tai, phong tai không những
đe dọa tính mạng con người mà còn hủy hoại môi trường sống nữa. Người chuyên
trì tụng chù Đại Bi thì được thiện thần gia hộ nên không bị ba loại thiên tai
trên. Nên gọi là hạng người vô úy.
Ở ác kiếp xảy ra các nạn, hoành hành, đao
binh, thủy, hỏa, ôn dịch, không thể làm hại người trì tụng chú Đại Bi. Người ấy
chính là tạng giải thoát, vì thiên ma ngoại đạo không thể bức hại người ấy
được. Chú Đại Bi có thể trị tất cả bịnh trên thế gian, nhưng phải thành tâm trì
tụng, mới có năng lực công hiệu. Hằng ngày ta phải tu pháp Đại Bi, tụng chú Đại
Bi thì đến lúc dùng mới có linh nghiệm, mới có năng lực. Hằng ngày không tu
không tụng, khi cần đem ra tụng thì không linh nghiệm và công dụng, công hiệu
cũng có nhưng không lớn.
Hoặc tụng chú vào trong nước uống, thức ăn,
dầu thơm, dược phẩm mà dùng. Nếu muốn thức ăn, nước uống biến thành dược phẩm
thì trì chú vào nước hoặc thực phẩm 108 biến chú Đại Bi, sau đó dùng thức ăn
nước uống, hoặc hương, niệm chú 108 biến. Mỗi thứ 108 biến sau đó sử dụng. Thức
ăn, nước uống, thực phẩm được trì chú, thức ăn, thức uống, những thứ đó trở thành
thuốc hay, khiến cho thân khỏe tâm an, xa lìa khổ nạn, mọi mong cầu đều được
thành tựu.
Kiết giới đúng pháp: Trì chú vào hột cải
trắng, vào đất, vào cây vào đá, vào nước v.v…Trì 21 biến rồi đem rải bốn
phương, đất, nước, đá, cây đến đâu là ranh giới đến vùng đó mình đã chọn. Người
ta hay dùng nước để kiết giới, dùng nước để sái tịnh. Sái tịnh cũng chính là
kiết giới. Dùng một ly nước, vẫy nước bằng một cành dương liễu, hay cành hoa,
rãy bốn phương làm giới hạn, nước sái tịnh đến đâu thì đó chính là phạm vi của
kiết giới. Trong phạm vi đã được vạch ra, thiên ma, ngoại đạo, yêu tinh quỷ
quái cũng không thể tiến vào được. Chúng có thể ở ngoài, nhưng không thể vào
trong được. Đây là sự vi diệu của chú Đại Bi. Hay dùng tâm tưởng đến chỗ nào ,
chỗ đó là giới hạn.
Có nhiều cách không nhất định, phương pháp
kiết giới cách nào cũng được. Dùng nước, dùng đất, dùng đá, dùng cây v.v…trì
chú vào, đặt để những thứ đó ở đâu, nơi đó là phạm vi của giới hạn của giới,
các thiên ma, quỉ quái không vào tác hại được. Chúng sanh nào nghe danh tự
của môn Đà La Ni này thì được tiêu diệt
tội nặng sanh tử trong vô lượng kiếp. Người nào trì tụng thần chú này, phải
biết kẻ ấy đã từng cúng dường vô lượng Phật, kẻ ấy có thể giúp chúng sanh tiêu
khổ trừ nạn. Nên biết kẻ ấy là bậc có đủ tâm đại bi, không bao lâu sẽ thành
Phật. Điều nên vì chúng sanh trì tụng chú đại bi khiến cho chúng sanh nghe
được, cùng gây nên nhân Bồ đề thì sẽ được vô lượng vô biên công đức.
Vì thế sức mạnh chủa chú Đại bi là không thể
nghĩ bàn, chổ kỳ diệu của chú Đại bi cũng không thể nghĩ bàn, sự cảm ứng của
chú Đại bi cũng không thể nghĩ bàn./.
Ngài A Nan lại bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế
Tôn, chú này tên gọi là gì? Con nên thọ trì như thế nào!. Đức Phật nói với A
Nan rằng: Thần chú này, có nhiều tên khác nhau như sau:
Quảng Đại Viên Mãn Đà La Ni; Vô Ngại Đại Bi Đà La Ni; Cứu Khổ Đà La Ni; Diên Thọ Đà La Ni; Diệt Ác
Thú Đà La Ni; Phá Ác Nghiệp Chướng Đà La Ni; Mãn Nguyện Đà La Ni; Tùy Tâm Tự
Tại Đà La Ni; Tốc Siêu Thánh Địa Đà La Ni; Ông nên như thế mà thọ trì.
-Quảng Đại Viên Mãn Đà La Ni: Thần chú này vô
cùng rộng lớn và tròn đầy.
-Vô Ngại Đà La Ni: là không có chỗ chướng
ngại, mà lại đầy đủ Đại bi.
-Cứu Khổ Đà La Ni: Thần chú này có năng lực
cứu bạt tất cả những bệnh khổ.
-Diên Thọ Đà La Ni: Khi sắp có người chết, trì
tụng chú Đại Bi này cho người đó, thì họ được trường thọ, cho nên chú này gọi
là chú Trường thọ.
-Diệt Ác Thú Đà La Ni: Diệt ác thú là tiêu trừ các cõi ác thú địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh A tu la, bốn ác thú đều tiêu diệt.
-Phá Ác Nghiệp Chướng Đà La Ni: Chú này có
công năng phá trừ tất cả nghiệp chướng xấu ác.
Nếu tin chú Đà La Ni nầy trì tụng sẽ phá trừ
các nghiệp chướng, nhưng trì tụng mà vẫn còn làm các việc ác, thì dù có trì
tụng tha thiết chuyên cần đi nữa, công năng của chú không có một chút nào,
nghiệp chướng còn nguyên không tiêu trừ.
-Mãn nguyện Đà La Ni: Trì chú này sẽ đáp ứng
sự mong cầu được đầy đủ. Nhưng mong cầu những điều chính đáng, những điều thiện
lành; chứ mong cầu những điều không chính đáng, thiện lành, thì sẽ không thành
tựu.
-Tùy Tâm Tự Tại Đà La Ni: Trì chú này mong
muốn gì sẽ được như ý.
-Tốc Siêu Thánh Địa Đà La Ni: Trì niệm chú này
sẽ rất nhanh đến địa vị Thập Địa Bồ tát.
Người làm vườn, làm nông, bị sâu bọ, chim,
chuột, các loại sâu bọ phá hoại ruộng vườn. Các giống cây, lá cây, trái cây hoa
quả bị các loại sâu bọ côn trùng cắn phá. Thì dùng tro, cát sạch, nước sạch,
gia trì 21 biến chú, rồi đem rải xung quanh ruộng vườn, sâu bọ, chim chóc sẽ bỏ
đi hết. Trái cây bị côn trùng cắn phá,
hay chim phá thì dùng nước đã gia trì chú vẫy lên cây, sâu bọ, chim chóc sẽ
không dám ăn nữa. Nếu đám ruộng, đám ra bị chuột phá, gia trì chú vào đất hay các cây hương, đem
rải chung quanh, hay cắm những cây hương đã gia trì chú, nơi đám lúa đám rau,
thì chuộc không dám phá nữa.
Công năng linh diệu của thần Chú Đại Bi trong
kinh nói rất nhiều, ở đây chỉ đưa ra một ít thôi, nếu có tâm tham cầu học hỏi
thì xem bảng chính sẽ rõ hơn ./.
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét