PHƯƠNG TIỆN NHẬP THAI, TU HÀNH, THÀNH ĐẠO
Trước khi Phật
thị hiện đản sanh ở cõi Ta bà, Ngài là một vị Bồ tát ở trên cung trời
Đâu Suất. Ở trên cung trời Ngài có thể thành được Bồ đề vô thượng, chuyển đại
pháp luân, nhưng do đâu mà Ngài lại hạ sanh ở chốn Diêm Phù đề ? Vì người ở cõi Diêm Phù đề không thể lên
thiên cung mà để nghe pháp, còn chư thiên thì có thể xuống Diêm Phù đề để nghe
pháp, nên Bồ tát không thành Phật ở
thiên cung mà ở Diêm Phù đề. Đó gọi là Bồ tát hành phương tiện.
Bồ
tát chẳng vào thai mẹ vẫn có thể thành Phật, nhưng vẫn từ thai ra, vì không muốn
chúng sanh khởi các nghi, rồi không chịu tin nhận giáo pháp mà tu hành dứt phiền
não, nên vẫn theo lệ thường của người đời mà sanh ra. Tuy vậy, Bồ tát vẫn chưa
hề rời cung trời Đâu Suất mà xuống Diêm Phù đề, thọ ngũ dục, xuất gia, khổ hạnh
và ngồi ở dưới cội Bồ đề. Tất cả chúng sanh thấy như thật nhưng đều là biến hóa
của Bồ tát. Bồ tát vẫn ở trong Vô cấu định. Chẳng xuất cũng chẳng nhập. Đó là Bồ
tát hành phương tiện.
(Đoạn
trên nói: “Bồ tát chẳng vào thai mẹ vẫn có thể thành Phật, nhưng vẫn từ thai
ra”. Không vào thai mẹ, nhưng vẫn từ thai ra? Chúng ta không thể hiểu được câu
này. Nhưng ngày nay khoa học người ta cấy thai trong ống nghiệm, rồi nuôi bào
thai trong ống nghiệm, bào thai ở ngoài lòng mẹ, mà vẫn sanh ra. Tạm đem khoa học
để ta có thể hiểu được sự hành phương tiện của Bồ tát.
Câu:
“Bồ tát vẫn chưa hề rời cung trời Đâu Suất mà xuống Diêm Phù đề, thọ ngũ dục,
xuất gia, khổ hạnh và ngồi ở dưới cội Bồ đề”. - Không rời cung Đâu Suất mà vẫn xuống cõi
Diêm Phù đề là như thế nào? Đem công
nghệ 4.0 và công nghệ AI ngày nay, chúng
ta có thể hiểu được câu này. Từ nơi nước Mỹ họ không qua Việt Nam mà ta vẫn thấy
họ qua Việt Nam. Hay các cuộc họp trực tuyến, chúng ta không đến hội trường
chính, mà ở tại nhà vẫn thấy nhau, và nghe nhau nói, vẫn phát biểu, góp ý kiến
cho nhau như đang ở hội trường. Như vậy, không rời khỏi nhà mà vẫn đến hội trường.
Tạm đem công nghệ khoa học mà ta có thể hiểu được: hành phương tiện của Bồ
tát).
Như ta đang xem một cuộn phim, mọi sự mọi vật
đều như thật, nhưng không có thật. Bật điện thì ta thấy như thật, tắt điện thì
ta không thấy gì cả, nó chỉ là một màng ảnh ảo mà thôi.
Bồ
tát đã nhập thai để sinh mà không vào không ra như người bình thường, lại từ
hông phải nhập vào, rồi từ hông phải sinh ra là để biết Bồ tát là do hóa sinh,
không phải do nghiệp bất tịnh mà sinh. Đó gọi là Bồ tát hành phương tiện.
Bồ
tát không sinh trong chốn cung điện mà sinh ra trong vườn vắng, vì từ trước đến
giờ, Bồ tát thường ưa chỗ vắng vẻ, thường tán thán chốn núi rừng nhàn tĩnh,
thanh vắng và hành pháp tịch diệt. Lại, không sinh trong chốn cung điện thì mọi
người và mọi loài có thể đến cúng dường, đều được phước báu. Đó gọi là Bồ tát
hành phương tiện.
Bồ
tát khi mới sinh ra liền đi bảy bước, là để hiểu Bồ tát có tướng đại thần lực
chuyên cần tinh tấn của bậc đại trượng phu, muốn thị hiện cho chúng sanh thấy
không ai có khả năng như thế, chỉ có Phật. Về việc đi bảy bước Phật nói: “Nếu bảy
bước là lợi ích chúng sinh thì Bồ tát đi sáu bước. Nếu tám bước là lợi ích
chúng sanh thì Bồ tát đi bảy bước. Vì thế
khi sinh ra không ai đỡ dắt, Bồ tát tự đi bảy bước mà chẳng phải sáu, chẳng phải
tám”. Đi bảy bước là vì tám bước là lợi ích chúng sinh. Điều đó cho ta thấy, những
tướng mà Như Lai thị hiện chưa nói được hết những lợi ích mà chúng sinh có được
khi thực hành giáo pháp Như Lai đã nói. Con số bảy không mang ý nghĩa đầy đủ
như của ngoại đạo, cũng không mang nghĩa Thất giác chi hay bảy quả vị là tứ quả
Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật. Tất cả chỉ là…phương tiện của Phật tử.
Đó chưa hẳn là điều Phật muốn hiển thị khi đi bảy bước. Câu “Nếu tám bước lợi
ích chúng sanh thì Như Lai đi bảy bước” vẫn còn đầy bí ẩn đối với Phật tử. Nó
được xem như một loại công án để tham cứu và trực ngộ.
Đi bảy
bước rồi, Bồ tát xướng rằng: “ Ta tối tôn, tối thắng, lìa sinh, già, bệnh, chết”
thanh âm vang khắp tam thiên đại thiên thế giới là để hàng phục chư thiên trời
Đế Thích. Vì chư thiên cõi ấy tâm rất cao mạn, tự cho mình là tôn quý nhất
trong trời đất. Tâm kiêu mạn sẽ khiến họ đọa vào các đường dữ, nên Phật đã phát
lời như thế. Đó gọi là Bồ tát hành phương tiện.
Do
duyên gì mà Bồ tát vừa sinh bảy ngày, phu nhân Ma gia lại mất? là do thọ mạng của
phu nhân chỉ đến đó là hết, không do Bồ tát. Dù Bồ tát thọ sanh hay không thọ
sanh thì phu nhân Ma cũng mất vào lúc đó.
Vì
sao Bồ tát tự lấy dao cắt tóc mình? Vì để phá bất thiện tâm của vua Tịnh Phạn.
Ông đã thị uy quyền mà truyền rằng: “ Ai cạo tóc cho Thái tử sẽ bị tru lục” Vì
thế Bồ tát đã tự cắt tóc mình để xóa đi bất thiện tâm của vua Tịnh Phạn.
Bồ
tát thị hiện khổ hạnh sáu năm chính là để hàng phục ngoại đạo. Do ở thế gian,
có các Sa môn, Bà la môn mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, một hột gạo, lấy đó làm
công khóa cho việc thanh lọc và giải thoát, nên Bồ tát hiện thân tu khổ hạnh,
cho thấy khổ hạnh không đưa đến kết quả thanh tịnh hay giải thoát. Đó gọi là Bồ
tát hành phương tiện.
Bồ
tát thị hiện ăn món thượng diệu rồi khí lực sung mãn, thành tựu Đạo quả, là do
thương chúng sanh thiện căn chưa thuần thục mà muốn cầu đạo. Các chúng sanh ấy
đều bị cái khổ đói khát bức bách thì chẳng thể được trí tuệ. Nếu được cái hạnh
an lạc thì trí tuệ sẽ soi rõ các pháp. Vì thế Phật thị hiện nhận bát sữa của
nàng Tu-xà-khư, rồi thành tựu 37 phẩm trợ đạo, được Bồ đề vô thượng. Đó gọi là
Bồ tát hành phương tiện.
Lúc
hành Bồ tát đạo trong vô lượng a-tăng-kỳ kiếp, Bồ tát đã nguyện vì chúng sanh
ban vui giải thoát, vì sao khi thành đạo phải chờ Phạm vương thỉnh nhiều lần,
Phật mới thuyết pháp. Vì một khi Phạm vương cúi đầu thỉnh Phật thì chư thiên của
Phạm vương đều quy y Phật. Khi Phạm vương thỉnh Phật chuyển pháp luân, đã có
sáu mươi triệu tám trăm nghìn Phạm thiên phát tâm Bồ đề. Đó gọi là Bồ tát hành
phương tiện.
Vì
sao người đầy đủ công đức như Phật mà vào thành khất thực lại mang bát không trở
ra? Là vì thương xót chúng Tỳ kheo tương lai, kém phước đức mà khất thực chẳng
được. Muốn chúng Tỳ kheo ấy không thoái tâm, nên hành phương tiện mang bát
không trở ra. Chư Tỳ kheo ấy sẽ nghĩ: “Như Lai vô lượng công đức còn có khi khất
thực chẳng được, huống là chúng ta phước mỏng nghiệp dày”. Nghĩ như vậy rồi, sẽ
không thoái tâm trên con đương tu tập.
Khi
mang bát không trở ra, Phật và chúng Tỳ kheo tâm chẳng thay đổi, trước sau vẫn
bình thường, chẳng có một niệm ưu não. Nhân việc đó, có bảy ngàn thiên tử sinh
lòng kính tin đối với Phật. Phật vì họ thuyết pháp, tất cả đều được pháp nhãn
thanh tịnh. Còn hàng cư sĩ do đến chỗ Phật sám hối, Phật đã vì họ thuyết Tứ đế. Có hơn hai vạn
người được pháp nhãn thanh tịnh. Đó gọi là Bồ tát hành phương tiện.
(Để
hiểu được đoạn kinh văn trên thời Phật còn tại thế: ngày nay sự xuất hiện của
sư Minh Tuệ đi khất thực, một bình bát và ba y, ăn ngày một bữa, tối ngủ ở gốc
cây, nghĩa địa, nhà hoang. Đã khởi lòng kính mộ cả ngàn người trên thế giới.).
Do nhân
duyên gì Phật và chúng Tăng trong ba tháng ăn lúa ngựa? . Là để độ cho 500 con
ngựa ấy thoát kiếp súc sanh. Bầy ngựa ấy đã từng học pháp Đại thừa, từng thân cận
cúng dường chư Phật quá khứ. Nhưng do thân cận ác tri thức, tạo ra ác nghiệp mà
đọa làm thân ngựa. Bồ tát Nhựt tạng do duyên đời quá khứ, đã dùng phương tiện Đồng
sự để độ sinh, khiến các ngựa kia nhớ lại duyên xưa, phát tâm Bồ đề. Phật vì
nhân duyên ấy mà thọ thỉnh duyên thí thực này. Trong ba tháng, Bồ tát Nhựt Tạng
đã dạy các con ngựa sám hối, kính Phật và vui vẻ cúng dường nửa phần ăn của
mình cho Phật và chư Tăng. Sau đó chẳng bao lâu, bầy ngựa chết, thác sanh vào
cõi trời Đâu Suất, nghe pháp tu hành. Còn chúng Tăng theo Phật thọ thí thì hơn
hai phần ba, hễ ăn ngon là sinh dục. Nhân việc cúng dường mã mạch này mà qua ba
tháng an cư, chư vị lìa dâm dục chứng quả A-la-hán.
Do
việc ăn lúa ngựa mà hàng súc sanh được thân trời, chúng Tăng chứng quả A la
hán, Thiên tử thì sinh lòng tin kính với Phật, cư sĩ thì hiểu lý Tứ đế… thì biết,
đó là Bồ tát hành phương tiện, chẳng phải do nghiệp báo vậy.
Kết
luận:
Phật
và chư Đại Bồ tát, thân tướng hay việc làm của chư vị, mỗi mỗi đều có tác dụng
lợi ích chúng sanh. Không gì không lợi ích, dù đó là những hình tướng mà với cái nhìn hạn cuộc của chúng sinh, chúng là ác
nghiệp.
Thời
Phật Nhiên Đăng, có 500 vị khách buôn vào biển lớn tìm châu báu. Đi với bọn họ,
có một tên giặc cướp giả dạng cùng đi. Lúc được châu báu trở về, tên giặc cướp
sinh ác tâm muốn giết 500 người để sở hữu
hoàn bộ châu báu. Lúc ấy Bồ tát làm hướng đạo sư của đoàn, được Hải thần mách bảo:
“Không nên để tên phản tặc giết người. Vì nếu để nó làm việc ấy sẽ gây thành đại
nghịch, ở địa ngục vô lượng kiếp. Vì 500 vị này là Bồ tát bất thoái chuyển hướng
về Đạo vô thượng”. Bồ tát nghe nói rồi, theo dõi mọi động chuyển của tên cướp.
Dù hiểu nhân quả chi phối thế giới này, biết giết người đưa đến quả báo dữ,
nhưng không cách nào khác đành phải dùng cây giáo giết tên phản nghịch. Vừa cứu
mạng các Bồ tát bất thoái chuyển, vừa cứu
tên cướp thoát khỏi vô lượng kiếp địa ngục. Do bi nguyện mà hành phương
tiện, nên về sau Bồ tát chỉ bị quả báo giáo đâm vào chân.
Song
phương tiện lợi ích này không phải khi nào cũng có tướng thuận như thế. Kinh
nói : “ Có lúc Như Lai dùng các phương tiện
cứu người ra khỏi sanh tử, cũng có lúc Như Lai chẳng cứu người. Vì sao? Vì Như
Lai đối với tất cả chúng sanh không có tâm thiên lệch”. Nghĩa là cứu hay không
cứu đều tùy thuộc vào lợi ích của người. Cứu mà mang lại lợi ích cho người thì
Phật cứu. Không cứu mới mang lại lợi ích cho người thì Phật không cứu. Như các
Bà la môn giết cô gái Tôn Đà Lợi rồi chôn xác trong vườn Kỳ Hoàn. Phật có thể
dùng thần lực để cứu hàng Bà la môn và
cô gái, nhưng Phật không làm vì quán thấy mạng căn cô gái đã hết, còn hàng Bà
la môn thì cần phải rơi vào đường khổ mới có thể hồi tâm, nên Phật không cứu.
Phương
tiện này là kết quả nhân duyên giữa bi nguyện của chư Phật (chư Bồ tát) và thiện
căn của chúng sanh. Bi nguyện đầy pháp giới là duyên, nhưng nhận được hay không
là tùy thuộc vào cái nhân là tâm của chúng sanh. Nhân duyên đầy đủ thì quả nhất
định thành. Chúng sanh nếu đủ nhân lành, đều có thể nhận được phần phương tiện
này. Nếu thiện căn chưa đủ mà có tâm hướng thiện, muốn quay về thì cần phát lời
nguyện. Lời nguyện này sẽ giúp chúng ta nhận đựợc phương tiện giáo hóa của chư
Phật và chư Bồ tát không mấy khó khăn.
Việc
ứng tâm như thế, không thể dùng trí phân biệt phàm tình mà có thể định liệu thuận
nghịch sao cho tương hợp với từng duyên hầu mang lại lợi ích cho chúng sanh. Nó
đòi hỏi phải có Trí chánh pháp mà phu
nhân Thắng Man đã nhắc đến trong ba đại nguyện của mình làm nền tảng, chính là
Nhất thiết trí nói đây. Chưa đạt được trí này thì thuận nghịch thiện ác khó
phân, khó mà ứng tâm để có loại phương tiện Đại thừa này cho chính xác, chỉ là
thuận theo tập nghiệp ngã tướng của mình mà cho là lợi người, nên không mang lợi
ích cho người. Vì thế, trong kinh Phật nói: “ các phương tiện này phải giữ kín,
chẳng nên nói với hạng người hạ liệt thiện căn kém mỏng. vì sao? Vì kinh này chẳng phải chỗ hành của Thanh văn
và Duyên giác, huống là phàm phu hạ liệt mà có thể tin hiểu. Kinh phương tiện
này chẳng phải chỗ dùng của họ, chẳng phải là chỗ mà hàng phàm phu khó có thể
thọ trì. Chỉ có Bồ tát là hay thuyết hay học kinh phương tiện này”. Cũng nói,
Kinh phương tiện này, kẻ nào đã thành tựu bảo khí đều nghe đều hiểu. Kẻ chẳng
có bảo khí, dù ở tại hội này cũng chẳng nghe chẳng thấy, huống là miệng có thể
nói. Vì không phải là hạng bảo khí nên không nương thần lực của Phật mà nói được”.
Phải là hạng có bảo khí mới nghe thấy được
kinh này, nên dù “phương tiện này phải giữ kín, chẳng nên nói với hàng hạ liệt
thiện căn kém mỏng”, bài viết vẫn xuất hiện. Tuy xuất hiện mà vẫn không xuất hiện
đối với hàng thiện căn kém mỏng, chỉ kẻ có bảo khí mới nhận được kinh này./.
Nhân mùa Phật đản, nguyện cho tất cả chúng
sanh ở mười phương giới đều thấm nhuần mưa pháp, giới hạnh đầy đủ, tin sâu nhân
quả, thiện nghiệp luôn làm, phương tiện đầy đủ, thành tựu quả vô thượng.
(Trích:
Đại Phương Tiện -NSGN số 242- 5/2026- Chân Hiền Tâm)
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét