THIỀN SƯ, LUẬT SƯ, PHÁP SƯ LÀ GÌ?
Trong sách Luật Hữu Bộ- Tạp sự quyển 13, Tỳ
kheo chia làm 5 loại kinh sư, luật sư, luận sư, pháp sư và thiền sư. Giỏi tụng
kinh là kinh sư, giỏi giữ luật gọi là luật sư; giỏi về nghĩa lý của Luận thì gọi
là luận sư. Giỏi thuyết pháp là pháp sư. Giỏi tu thiền là thiền sư. Thế nhưng
trong Phật giáo Trung Quốc, người ta ít nói tới Kinh sư và luật sư; còn luận
sư, pháp sư và thiền sư thì được nói tới rất nhiều.
Từ thiền sư vốn được dùng để chỉ vị Tỳ kheo tu thiền. Vì vậy, cuốn
“Tam đức chi quy” quyển 3 viết “Tu tâm tịnh lự là thiền sư”. Nhưng ở Trung Quốc,
từ Thiền sư được dùng trong hai trường hợp: Một là nhà vua dùng từ “thiền sư”
khi phong tặng những tỳ kheo có đức có học. Như vua Trần Tuyên Đế, năm Đại Kiến
nguyên niên, phong Hòa thượng Huệ Tư ở Nam Nhạc là Đại thiền sư. Vua Đường
Trung Tôn, năm thứ 2 niên hiệu Thần Long, sắc phong Hòa thượng Thần Tú là Đại
Thông thiền sư. Trường hợp thứ 2 là tăng sĩ ngày nay tôn gọi các cao tăng tiền
bối là thiền sư. Càng về sau, bất cứ một tỳ kheo nào có đôi chút danh vọng, đều
được tôn là thiền sư.
Từ “luật sư” chỉ cho những tỳ kheo khéo giữ gìn và giải thích giới
luật. Chỉ xứng đáng gọi là luật sư, những vị tỳ kheo học giới, trì giới, khéo
giải thích, xử lý, và giải đáp mọi vấn đề có liên quan tới giới luật. Địa vị của
luật sư trong Phật giáo tương đương với học giả pháp luật, pháp quan, đại pháp
quan ở thế gian. Các tỳ kheo, tỳ kheo ni nói chung, tuy giữ giới không phạm,
nhưng chưa chắc đã thông hiểu toàn bộ luật tạng. Cho nên một tỳ kheo, muốn trở
thành một luật sư xứng đáng với tên gọi đó, cũng không phải là chuyện đơn giản.
Pháp sư là người khéo học Phật pháp và khéo thuyết pháp. Trong quan niệm của mọi
người nói chung, pháp sư phải là tỳ kheo. Kỳ thực thì không phải. Trong sách Phật,
quan niệm về Pháp sư rất là rộng rãi và không hạn chế ở Tăng ni. Như Phẩm Tựa
trong Kinh Pháp Hoa viết: “Thường tu phạm hạnh, gọi là pháp sư”. Sách Tâm Đức
chi quy, quyển I viết: “Tinh thông kinh luật gọi là pháp sư”. Sách “Nhân Minh đại
sớ” viết: “Pháp sư là bậc thầy thực hành Phật pháp”. Lại có người cho rằng lấy
Phật pháp tự dạy mình và dạy người gọi là pháp sư. Do đó, cư sĩ tại gia cũng có
tư cách gọi là pháp sư. Thậm chí, súc sanh như loài giã can (giống như chồn
nhưng thân nhỏ) khéo thuyết pháp cũng tự xưng là pháp sư đối với Thiên Đế (Vua
Đế Thích). Vì lý do ấy cho nên, Lão giáo chịu ảnh hưởng của đạo Phật, gọi các đạo
sĩ giỏi bùa chú là pháp sư. Gần đây, có đạo giáo mới thành lập, và chịu ảnh hưởng
của đạo Phật, họ cũng gọi giáo sĩ của họ là pháp sư. Có thể thấy, từ pháp sư
không phải là từ chuyên dụng để chỉ tỳ kheo Phật giáo.
Theo yêu cầu do Phật chế định, tôi cho rằng, người xuất gia theo đạo
Phật, đối với người thế tục nên tự xưng là tỳ kheo (Sadi) hay tỳ kheo ni (Sadi
ni), hay tự xưng là Sa môn. Tín đồ tại gia, đối với người xuất gia, có thể nhất
luật gọi A xà lê (hay sư phụ), cư sĩ gọi là đệ tử, nếu không muốn thì tự gọi bằng
tên mình. Cũng có người tự gọi là “học nhân” nhưng theo nghĩa Kinh Phật thì từ
học nhân chỉ cho các bậc Thánh chứng sơ quả, nhị quả hay tam quả. Người xuất
gia thì gọi là xuất gia; nếu là trưởng lão thì gọi là trưởng lão; Thượng tọa
thì gọi thượng tọa. Nếu bằng vai với nhau, thì gọi là “tôn giả”, hay một cách
thân thiết gọi là anh, là sư. Trong thời Phật còn tại thế, hàng tỳ kheo xưng hô
với nhau, thường là bằng tên đạo, Tỳ kheo gọi tỳ kheo ni là chị, em. Trong ni
chúng, cũng dùng các từ hương lão, thượng tọa tương đương với bên tăng, bằng
vai về với nhau gọi là chị, là em. Còn người ngoài gọi tỳ kheo và tỳ kheo
ni thì theo tập quán. Nếu vị tỳ kheo đó
đích xác có tư cách là thiền sư, luật sư, pháp sư, thì cứ gọi họ bằng cách xưng
hô đó. Như ngày nay có thông lệ gọi tỳ
kheo tỳ kheo ni đều là pháp sư cả, không kể trình độ và tư cách họ thế nào, thì
quả là không hợp với yêu cầu vậy./.
(Trích Phật giáo Chánh Tín HT Thánh Nghiêm)
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét