LA HÁN BỒ TÁT PHẬT LÀ GÌ?
Đúng như vậy, nhiều người hiện nay không hiểu rõ La Hán, Bồ Tát Phật
là gì. Thậm chí có những Phật tử tin Phật lâu năm cũng mờ mịt đối với ý nghĩa
các từ đó.
Theo nhận thức của Phật giáo Bắc truyền, Phật giáo chia thành Đại
thừa và Tiểu thừa. Tiểu thừa chuyên tu đạo giải thoát. Đại thừa chuyên tu đạo Bồ
Tát. Đại Bồ Tát kết hợp “nhân thiên đạo” với “giải thoát đạo”, nghĩa là, giải
thoát khỏi sanh tử mà vẫn không lìa sanh tử, để có thể hóa độ những chúng sanh
có duyên, đó chính là đạo Bồ Tát Đại thừa.
Quả vị cao nhất của đạo giải thoát là A La Hán; La Hán là bậc
Thánh của Tiểu thừa. Có 2 quả vị cao nhất của Tiểu thừa. Một là quả vị Thánh
hàng Thanh văn, nhờ nghe Phật thuyết pháp, tu tập Bốn Đế (khổ, tập, diệt, đạo)
và 37 phẩm bồ đề mà được giải thoát, đó là La Hán. Hai là quả vị của những bậc
Thánh, sinh vào thời không có Phật, nhưng nhờ tu pháp 12 nhân duyên (vô minh,
hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử). mà chứng
đạo giải thoát, ra khỏi sanh tử. Phật giáo gọi các bậc Thánh này là Duyên Giác
hay Bích chi Phật. Thanh văn và Duyên Giác
đều thuộc Tiểu thừa . Tiểu thừa lại chia thành Thanh văn thừa và Duyên Giác thừa, cho nên cũng gọi Tiểu
thừa là nhị thừa ( 2thừa). Các bậc nhị thừa cầu ra khỏi sanh tử, nhập Niết Bàn.
Họ nhàm chán cõi sanh tử của loài người và loài trời, vì vậy, họ không nguyện
trở lại hóa độ chúng sanh. Họ không thể gọi là Bồ Tát, cũng không thể thành Phật.
Nếu muốn thành Phật thì phải hành đạo Bồ Tát. Pháp môn chủ yếu của
đạo Bồ Tát là sáu độ (Bố thí, trì giới,
nhẫn nhục, tinh tấn, Thiền định và trí huệ), (Bố thí: Pháp thí, tài thí và vô úy thí; Trì
Giới: Giữ giới: không làm điều ác, làm mọi việc lành; Nhẫn nhục: nhẫn điều khó nhẫn, làm điều khó làm; Tinh tấn:
tiến thẳng về phía trước, gặp khó khăn cũng không nản lòng; Thiền định: chuyên
chú vào một đối tượng, không giao động; Trí tuệ: chiếu sáng bản thân, chiếu
sáng người khác). Ba tụ giới: tu mọi tịnh giới, làm mọi điều lành, hóa độ chúng
sanh. Từ lúc ban đầu, phát tâm tối thượng, tức là phát Bồ đề tâm, từ bi tâm -
không tuệ tâm, trải qua ba đại kiếp vô lượng, mới đạt được mục đích thành Phật.
Đạo Bồ Tát, hàng Tiểu Thừa không giống. Cho nên gọi là nhất thừa.
Đạo nhân thiên là pháp môn lành, tu tập để được tái sanh làm người
hay làm loài trời. Tiểu thừa tuy không thích thú gì đạo nhân thiên, nhưng cũng
không phủ định giá trị của đạo nhân thiên, đạo giải thoát của Tiểu
thừa cũng chỉ là đạo nhân thiên được nâng cao và thăng hoa. Pháp lành của nhân
thiên cũng là nền tảng của đạo nhất thừa của Bồ Tát. Do đó pháp lành của nhân
thừa và thiên thừa, 5 giới, 10 thiện là pháp lành chung cho cả nhị thừa và nhất
thừa, cho nên nói pháp lành của nhân và thiên là pháp chung cho cả 5 thừa (Nhân, thiên, Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát).
Đạo giải thoát của Tiểu thừa hay Nhị thừa cũng là pháp môn chung
cho cả đạo Bồ Tát nữa. Nếu Bồ Tát mà không tu đạo giải thoát thì sẽ không phải
là Bồ Tát mà chỉ là nhân thiên đạo. Vì vậy mà đạo giải thoát của Tiểu thừa được
gọi là pháp môn chung cho cả ba thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát.
Chỉ có đạo Bồ Tát mới là pháp môn riêng của Đại thừa hay nhất thừa.
Bồ Tát tuy là pháp môn riêng của một thừa, nhưng lại là nơi hướng về của cả 5
thừa vì pháp chung của ba thừa (ngũ thừa
cộng pháp, tam thừa cộng pháp). Tiểu thừa tuy là pháp chung của ba thừa, nhưng
cũng là pháp chung của 5 thừa được thăng hoa lên (nâng cao lên) mà thôi: Pháp chung của 5 thừa,
tuy có tên chung 5 thừa, nhưng chỉ là thiện pháp của nhân thừa và thiên thừa.
(Lấy ngũ thừa cộng pháp,
tam thừa cộng pháp và Đại thừa bất cộng pháp, thâu nhiếp toàn bộ Phật pháp.Đó
là một sáng kiến của đại sư Thái Hư).
Nhân thiên thừa là pháp thế
gian, là pháp sinh tử, không thể đưa người ra khỏi biển khổ sanh tử được. Vì vậy
mà nói, pháp thế gian là pháp hữu lậu. Các bậc thánh Tiểu thừa đều là những bậc
thánh xuất thế, không còn bị sanh tử chi phối, vì vậy pháp xuất thế được gọi là
pháp vô lậu.
Trong hàng Bồ Tát, có người là phàm phu, có người là Thánh. Bồ Tát
chia làm 52 thứ bậc: Thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, đẳng
giác và diệu giác: Bốn mươi thứ bậc trước khi đạt thập địa đều là phàm phu. Mười
hai thức bậc từ sơ địa trở lên mới là hàng Thánh. Bồ Tát nêu ra ở trong đồ biểu
là Thánh Bồ Tát. Trong kinh Phật, thông thường
khi nói Bồ Tát mà không ghi rõ là Địa tiền Bồ Tát (Bồ tát trước khi đạt tới sơ
địa) thì đó là Thánh Bồ Tát.
Các bậc Thánh Tiểu thừa không cần thành Phật mà chỉ cần nhập Niết
Bàn. Về bản chất mà nói, cảnh giới Niết Bàn của Tiểu thừa, sau khi nhập Niết
Bàn rồi, bèn ở luôn tại đấy, không còn độ chúng sanh nữa. Còn Niết Bàn của Đại
Thừa thì tuy nhập Niết Bàn nhưng không ở lại Niết Bàn, và cho rằng sanh tử với
Niết Bàn là cùng chung một thể, vì vậy mới có câu “Sanh tử tức Niết Bàn”, “Vô
trụ xứ Niết Bàn”. Đó là cảnh giới của các bậc Thánh Đại thừa.
Niết Bàn của Tiểu thừa, là do đoạn ngã chấp và phiền não chướng,
vì vậy A La Hán của Tiểu thừa, về cảnh giới giải thoát mà nói, là tương đương với
Bồ Tát thất địa hay bát địa, của Thông giáo. Bậc Thánh của đạo Bồ Tát là do đoạn
một phần pháp chấp và sở tri chướng, một phần ngã chấp và phiền não chướng, mà
tự mình chứng được một phần của pháp tánh chân như và tiến vào hàng sơ địa. Về
mặt trình độ đoạn phiền não chướng mà nói thì A La Hán tương đương với Bồ Tát
Thất địa hoặc Bát địa; đứng về trình độ đoạn sở tri chướng mà nói thì La Hán chỉ
mới tương đương với Bồ Tát đệ nhất tín vị.
Bởi vì, đoạn phiền não chướng (ngã không) tức là thoát khỏi sanh tử.
Còn đoạn sở tri chướng (pháp không) tức là không lìa sanh tử, giải thoát sanh tử
tức là nhập Niết Bàn. Không lìa sanh tử tức là độ chúng sanh: Giải thoát là tuệ
nghiệp; độ sanh là phúc nghiệp. Cả phúc và tuệ đều tu là Bồ Tát. Cả phúc và tuệ
tròn đầy là thành Phật. Do vậy, đứng về phúc nghiệp độ sinh mà nói, La Hán chỉ
tương đương với bậc thứ bảy của Bồ Tát sơ phát tâm, còn kém sơ địa Bồ tát đến
33 bậc. Trên toàn bộ lộ trình thành Phật, vị Bồ Tát sơ địa đã đi được 1/3 đường
(đã đi hết A tăng kỳ kiếp thứ nhất). Bát địa Bồ Tát đã đi xong 2/3 con đường (A
tăng kỳ kiếp thứ hai). Còn vị Bồ Tát thập tín vị chỉ mới ở giai đoạn chuẩn bị
vào ba A tăng kỳ kiếp mà thôi!.
Do đó, một vị A La Hán, muốn thành Phật thì phải từ Tiểu thừa quay
về Đại thừa, và tiến dần dần từ đệ thất tín vị trở đi. Nhưng vị A La Hán, sau
khi nhập Niết Bàn trong thời gian ngắn rất khó bỏ Tiểu thừa hướng về Đại thừa.
vì vậy, tu theo Tiểu thừa, hầu như cắt đứt duyên với đạo thành Phật. Do đó, có
kinh luận Đại thừa kích bác đồng loạt cả Tiểu thừa và ngoại đạo. Thực ra, theo
quan điểm của kinh Pháp Hoa thì vị A La Hán chân chính nhất định sẽ bỏ Tiểu thừa,
hướng về Đại thừa. Trong hội Pháp Hoa, phần lớn các bậc đại Tỳ kheo và Tỳ kheo ni đều là những bậc A
La Hán từ Tiểu thừa hướng tới Đại thừa.
Bỏ Tiểu thừa, hướng tới Đại thừa có 2 loại người: Một loại là, từ
trước tới nay, vốn tu theo Tiểu thừa, nay từ quả vị A La Hán chuyển sang Đại thừa
thì phải từ ở thứ bậc thất tín vị của Đại thừa mà tu theo pháp Đại thừa, rồi
sau khi chứng quả A La Hán lại tu theo Đại thừa. Đối với loại này, phải tính cả
giai đoạn trước đây đã tu theo Đại thừa. Thí dụ, ngài Xá Lợi Phất, trong các kiếp
sống trước đã từng tu theo Đại thừa, đến cấp “Đệ thất trụ”; sau chuyển sang tu
theo Tiểu thừa, chứng quả A La Hán rồi lại chuyển sang Đại thừa. Nói chung là,
nếu trước đây đã tu theo Đại thừa , sau quay sang Tiểu thừa, rồi lại trở về Đại
thừa, thì chỉ cần một niệm hồi tâm là có thể chứng nhập sơ trụ vị của Bồ Tát.
Hoặc là đã có được cơ sở Đại thừa sâu dày, nhưng vẫn quay sang Tiểu thừa, sau
đó hướng về Đại thừa thì chỉ cần một niệm hồi tâm là có thể chứng nhập hàng bậc
Thánh Bồ Tát từ sơ địa trở lên. Đương nhiên, vị A La Hán bỏ tiểu thừa hướng Đại
thừa, đã là bậc Thánh Đại thừa mà phúc nghiệp chưa đầy đủ. Do trình độ trí tuệ
và công phu tu đạo giải thoát vốn có cho nên vị ấy không bao giờ thoái lui xuống
địa vị phàm phu nữa.
Phật là từ gọi tắt của Phật đà. Quả vị Phật là quả vị cứu kính tột
cùng của đạo Bồ Tát, cho nên có thể gọi Phật là vị Bồ Tát cứu kính. Quả vị Phật
cũng là quả vị cứu kính của đạo giải thoát, cho nên cũng gọi Phật là vị A La Hán cứu kính. Từ A La Hán có nghĩa
là xứng đáng làm ruộng phước cho loài trời
và loài người, xứng đáng được trời và người
cúng dường. Vì vậy “Ứng cúng” là một trong 10 hiệu của Phật, Phật có
nghĩa là bậc giác ngộ chân chính, cùng khắp, vô thượng, bậc tự giác, giác tha
và giác hành đầy đủ. Bồ Tát là giác hữu tình, có nghĩa là tự giác, giác tha và
tự giác chân chính, cùng khắp. Thanh văn, Duyên giác đều có nghĩa tự giác và
chính giác. Phàm phu ở loài trời và loài người đều là những kẻ si mê chưa được
chính giác.
Lại còn một điểm nữa, là hình thức sinh hoạt
của A La Hán theo truyền thuyết của Trung Quốc, cần phải được sửa chữa thanh lọc
lại. Phật giáo đồ Trung Quốc, vì thấy trong lịch sử Trung Quốc, có những chuyện
kỳ lạ như Hàn Sơn, Thập Đắc, Phong Can, Bố đại hòa thượng v.v..nhưng chuyện như
Nam tuyền chém mèo, Quy tôn giết rắn hoặc có người chèo thuyền trên sông, có
người sống một mình trên đảo hoang, có người sống hòa mình vào cảnh trần tục của
thị trấn, có người bắn cung, múa kiếm, có người múa hát theo phụ nữ, có người
nhậu nhẹt rượu thịt, đó là những cái gọi là tác phong siêu Tổ vượt Phật của Thiền
tông! Do đó mà đôi khi nhận lầm những phần tử xuất gia, phá giới, sống bẩn thỉu
và lười biếng, là A La Hán hóa hiện! Ở Trung Quốc, tranh và tượng A La Hán cũng
thường dựng lên những mẫu người quái dị, quần áo lôi thôi, mồm răng rộng
hoác, ngó bộ rất đáng ghét.
Sự thực thì trong kinh điển Tiểu thừa, các bậc
La Hán đều là các bậc Thánh tăng giữ gìn giới luật nghiêm túc. Và chỉ có bọn ác
tăng, vi phạm giới luật mới na ná giống như tranh và tượng Trung Quốc miêu tả
mà thôi. Nếu chúng ta không thay đổi quan niệm này thì đó là một sự lăng nhục đối
với các bậc A La Hán.
Ngược lại, dưới con mắt của người Trung Quốc,
Bồ Tát lại có tướng mạo thùy mị, trang nghiêm đặc biệt. Kỳ thực thì tuy rằng
báo thân của Bồ Tát là trang nghiêm, đẹp đẽ, nhưng vì lợi ích độ sinh, hóa thân
của Bồ Tát có thể mang rất nhiều thân khác nhau. A La Hán dưới con mắt người
Trung Quốc, đúng ra là hóa thân của Bồ Tát thì phải hơn.
A La Hán là Tăng Ni xuất gia, họ là dấu hiệu biểu trưng cho sự tồn
tại Phật pháp ở thế gian, cho nên trong ứng xử, La Hán không thể tùy tiện được,
nếu không thì sẽ không có lợi cho thanh danh của đạo Phật. Còn Bồ Tát thì không
có thân cố định, Bồ Tát chỉ nhằm mục đích khai hóa độ sinh. Bồ Tát không yêu cầu
chúng sanh biết mình là Bồ Tát. Bồ Tát cố nhiên là có thể thị hiện thành loài
người hay loài trời đầy đủ phước đức trang nghiêm, nhưng khi cần thiết cũng có
thể hóa thành Ngoại đạo, người đồ tể, thậm chí cả Ma vương, cũng không có hại
gì đối với thanh danh đạo Phật.
Vì vậy, Phật giáo đồ Trung Quốc nên sửa chữa lại quan niệm của
mình đối với A La Hán mới được.
(Trích Phật giáo Chánh tín- HT Thánh
Nghiệm)
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét