THIỀN TÔNG CÓ PHẢI LÀ THIỀN ĐỊNH
KHÔNG.
Không phải. Thiền tông khác
với thiền định. Bởi vì Thiền tông tuy chủ trương tham thiền nhập định, nhưng
thiền định không phải là thiền tông.
Từ “Thiền tông” là do Trung
Quốc đặt ra. Khi Phật còn tại thế, không có danh từ Thiền tông, mà chỉ có công
phu thiền và nội dung thiền. Phương pháp tu trì giải thoát của đạo Phật lấy giới
làm cơ sở, lấy thiền định làm trọng tâm, lấy trí tuệ làm mục đích. Giới, Định,
Tuệ là ba môn vô lậu học, thiếu một môn là không được. Ba môn học này liên quan
với nhau, hỗ trợ nhau; do giới mà sinh định, do định mà phát huệ. Nhờ tu huệ mà
chứng đạo giải thoát. Định tức thiền định.
Thực ra, thiền tông Trung
Quốc chú trọng giác ngộ chứ không chú trọng thiền định.
Đồng thời, thiền định cũng
có rất nhiều loại. Có phép thiền định xuất thế của đạo Phật, gọi là diệt tận định
(diệt tận hết phiền não), lại có phép thiền định thế gian của Ngoại đạo, phàm
phu và cả của giới súc sinh nữa; đó là cái mà tính thường gọi là bốn thiền tám
định. Bốn thiền tám định cũng là quá trình tu tập định xuất thế của đạo Phật.
Chỉ có khác là ngoại đạo tu tập thế gian định để cầu sinh lên cõi Trời, còn Phật
giáo tu tập thế gian định là để tiến lên định xuất thế gian. Vì vậy mà Thiền
ngoại đạo gọi là thế gian thiền; thiền Phật giáo gọi là căn bản tịnh thiền.
Thiền định Phật giáo cũng
chia làm Tiểu thừa thiền và Đại thừa thiền. Tiểu thừa thiền nhằm mục đích giải
thoát khỏi sanh tử. Đại thừa thiền nhằm
mục đích nghệ thuật hóa cuộc sống, ví dụ Thiền tông trung Quốc, cho rằng chẻ củi,
gánh nước cũng đều là Thiền, ăn cơm ngủ nghỉ cũng là định tâm; chú trọng gìn giữ
được tinh thần an định, không giao động, chứ không yêu cầu hình thức ngồi thiền
định bất động.
Hơn nữa, thiền và định kết
hợp dịch âm và nghĩa từ chữ Phạn Dhyana, có nghĩa tĩnh lự (yên lặng mà suy
nghĩ) cho nên cũng có thể dịch là định. Tuy nhiên, hai chữ thiền định cũng nên
phân biệt. Thiền là tâm cảnh của cõi trời sắc giới, vì vậy sắc giới còn có tên
gọi là Tứ thiền thiên (các cõi trời bốn thiền). Còn định là tâm chuyên nhất.
Tâm chuyên nhất là tâm trạng có thể ở Dục giới, và cũng có thể là ở cả cõi Trời
vô sắc. Thậm chí, cả xuất thế định siêu
việt ba giới, cũng vẫn có các tâm chuyên nhất đó. Vì vậy, Phạm vi của
thiền là hẹp. Phạm vi của định là rộng. Thiền cũng là một loại định. Nhưng cũng
có người gọi xuất thế định là xuất thế gian thượng thượng thiền. Và gọi định của
ngoại đạo trình độ thấp là Giã hồ thiền, tức là thiền của cáo hoang.
Tu định trong tiếng Phạn
ngoài chữ tam muội ra, còn có những tên khác nữa là: Tam ma địa, Tam ma bát để; Tam ma tất đa; Đà
na diễn na Xa ma tất đa; A yết là đa v.v.. Vì rằng, phàm đã là Thánh đều có định
tâm, thậm chí có người Ấn Độ gọi nam nữ giao hợp là Tam ma bạt để, là thư hùng
đẳng chí. Bởi vì lúc giao hợp cũng có tâm ý tập trung, niềm vui dâm dục tràn khắp
thân người, giống như hiện tượng định tâm vậy. Đến nỗi, có người đề xướng các
thuyết như tính mạng cùng tu. Thân tâm cùng tu, cho rằng có thể tu định trong
niềm vui dâm dục của nam nữ ( xem cuốn Đạo thành Phật của Pháp sư Ấn Thuận;
tr.144). Ý nghĩa tu định bị hạ thấp tới mức nhơ bẩn đến thế, thực là đáng
thương hại vậy! Thế nhưng, điều này cũng cho ta thấy, Ấn Độ có một quan niệm rất
rộng rãi về định tâm, có thể nói khác với Thiền tông Trung Quốc như một trời một
vực vậy.
Chính vì thiền định không
phải là thiền tông, cho nên trong các tôn giáo trên thế giới, hễ có đôi chút hiệu
nghiệm thần bí đều là do công phu thiền định mà ra, dù rằng đó là do trì chú, lễ
bái, tụng niệm hay là cầu đảo mà được.
Vì vậy cho nên, phàm phu và cả đến súc sanh nữa
như cáo chồn, chỉ cần tâm chuyên nhất vào một cảnh là có ngay ít nhiều hiệu
nghiệm thần bí, gọi là thần thông. Nhưng, đó hoàn toàn không phải là thiền tông
Phật giáo. Vì Thiền tông Phật giáo tuyệt đối không có chủ trương tự cho có phép
thần thông.
(Trích Phật giáo
Chánh tín: HT Thánh Nghiêm)
PHỤ ĐỀ:
Thiền có nhiều loại thiền, nhưng tựu trung nằm trong 5 loại thiền: Phàm phu thiền,
Ngoại đạo thiền, Đại thừa thiền, Tiểu thừa thiền và Tổ sư thiền.
Phàm phu thiền, là loại thiền cầu mong có sức khỏe về thân, không
bịnh tật. Như Yoga, Pháp luân công, Nhân điện v.v.. không khổ về tâm, như buồn
rầu, lo âu, sợ hãi v.v.
Ngoại đạo thiền, là loại thiền của các phái tu ngoại đạo, mục đích
là cầu mong có thần thông, cầu mong lên cõi tiên cõi trời v.v..như thiền xuất hồn
.. .
Danh từ ngoại đạo trong Phật giáo không phải từ chê bai, hạ thấp
mà là từ chỉ cho phương pháp tu tập hướng ra bên ngoài mà cầu, như cầu thần
thông, cầu lên cõi tiên, cầu lên cõi trời v.v… đạo Phật không phủ nhận các cõi
trời, cõi thần tiên, nhưng đạo Phật xem các cõi ấy còn nằm trong cõi dục, còn nằm
trong sanh tử khổ đau.
Còn ba loại thiền lại sau
thuộc về đạo Phật. Vì sao trong Phật giáo lại chia thiền thành nhiều pháp. Vì
theo căn cơ và trình độ mà thiền Phật giáo phân thành Đại và Tiểu. Bản thân thiền
không phân thành Đại, Tiểu nhưng do căn cơ trình độ tiếp nhận của người tu tập
mà pháp trở nên có Đại, Tiểu, ứng thích với mọi căn cơ.
Đại thừa thiền, là thiền
dành cho căn cơ bực thượng, căn cơ nói một hiểu 10, hiểu 100, hay vừa nhìn qua
thì nhận ra Tự tánh. Không cần phải tu học nhiều năm, hạng căn cơ bậc thượng rất
ít, còn lại hạng Trung và hạng Hạ thì nhiều.
Tiểu thừa thiền, là thiền
giành cho căn cơ bực trung và bậc hạ, hạng này tu chỉ cầu giải thoát cho bản
thân chứ chưa nhắm đến thành Phật độ sanh nên gọi là Tiểu. Còn hạng thượng căn
nhắm đến thành Phật và độ sanh nên gọi là Đại.
Tổ sư thiền, là thiền do
các Tổ sư Trung Hoa sáng lập, rút ra từ thiền Đại thừa sáng lập ra thiền Tổ sư.
Thiền tổ sư tu tập khác với thiền Tiểu thừa. Căn cứ vào việc Phật truyền tâm ấn
cho Tổ Ma Ha Ca Diếp, mà các thiền sư Trung Hoa sáng lập nên thiền Tổ sư. Thiền
tổ sư đề xướng bất lập văn tự, thấy tánh thành Phật. Thiền Tổ sư gồm có hai loại:
Thiền công án và thiền thoại đầu.
Và thiền Tổ sư bắt nguồn từ
Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa truyền Pháp, đến đời Lục Tổ Huệ Năng thì được
phát triển mạnh. Ngài Huệ Năng bản thân nhà quê không học, không biết chữ nhưng
chỉ nghe một câu kinh của kinh Kim Cang “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì ngộ
đạo. Do đó, Thiền tổ sư chủ yếu tham quán công án và thoại đầu làm cơ bản.
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét