Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

THIỀN TÔNG CÓ PHẢI LÀ THIỀN ĐỊNH KHÔNG.

 

THIỀN TÔNG CÓ PHẢI LÀ THIỀN ĐỊNH KHÔNG.

  Không phải. Thiền tông khác với thiền định. Bởi vì Thiền tông tuy chủ trương tham thiền nhập định, nhưng thiền định không phải là thiền tông.

  Từ “Thiền tông” là do Trung Quốc đặt ra. Khi Phật còn tại thế, không có danh từ Thiền tông, mà chỉ có công phu thiền và nội dung thiền. Phương pháp tu trì giải thoát của đạo Phật lấy giới làm cơ sở, lấy thiền định làm trọng tâm, lấy trí tuệ làm mục đích. Giới, Định, Tuệ là ba môn vô lậu học, thiếu một môn là không được. Ba môn học này liên quan với nhau, hỗ trợ nhau; do giới mà sinh định, do định mà phát huệ. Nhờ tu huệ mà chứng đạo giải thoát. Định tức thiền định.

  Thực ra, thiền tông Trung Quốc chú trọng giác ngộ chứ không chú trọng thiền định.

  Đồng thời, thiền định cũng có rất nhiều loại. Có phép thiền định xuất thế của đạo Phật, gọi là diệt tận định (diệt tận hết phiền não), lại có phép thiền định thế gian của Ngoại đạo, phàm phu và cả của giới súc sinh nữa; đó là cái mà tính thường gọi là bốn thiền tám định. Bốn thiền tám định cũng là quá trình tu tập định xuất thế của đạo Phật. Chỉ có khác là ngoại đạo tu tập thế gian định để cầu sinh lên cõi Trời, còn Phật giáo tu tập thế gian định là để tiến lên định xuất thế gian. Vì vậy mà Thiền ngoại đạo gọi là thế gian thiền; thiền Phật giáo gọi là căn bản tịnh thiền.

  Thiền định Phật giáo cũng chia làm Tiểu thừa thiền và Đại thừa thiền. Tiểu thừa thiền nhằm mục đích giải thoát  khỏi sanh tử. Đại thừa thiền nhằm mục đích nghệ thuật hóa cuộc sống, ví dụ Thiền tông trung Quốc, cho rằng chẻ củi, gánh nước cũng đều là Thiền, ăn cơm ngủ nghỉ cũng là định tâm; chú trọng gìn giữ được tinh thần an định, không giao động, chứ không yêu cầu hình thức ngồi thiền định bất động.

  Hơn nữa, thiền và định kết hợp dịch âm và nghĩa từ chữ Phạn Dhyana, có nghĩa tĩnh lự (yên lặng mà suy nghĩ) cho nên cũng có thể dịch là định. Tuy nhiên, hai chữ thiền định cũng nên phân biệt. Thiền là tâm cảnh của cõi trời sắc giới, vì vậy sắc giới còn có tên gọi là Tứ thiền thiên (các cõi trời bốn thiền). Còn định là tâm chuyên nhất. Tâm chuyên nhất là tâm trạng có thể ở Dục giới, và cũng có thể là ở cả cõi Trời vô sắc. Thậm chí, cả xuất thế định siêu  việt ba giới, cũng vẫn có các tâm chuyên nhất đó. Vì vậy, Phạm vi của thiền là hẹp. Phạm vi của định là rộng. Thiền cũng là một loại định. Nhưng cũng có người gọi xuất thế định là xuất thế gian thượng thượng thiền. Và gọi định của ngoại đạo trình độ thấp là Giã hồ thiền, tức là thiền của cáo hoang.

  Tu định trong tiếng Phạn ngoài chữ tam muội ra, còn có những tên khác nữa là:  Tam ma địa, Tam ma bát để; Tam ma tất đa; Đà na diễn na Xa ma tất đa; A yết là đa v.v.. Vì rằng, phàm đã là Thánh đều có định tâm, thậm chí có người Ấn Độ gọi nam nữ giao hợp là Tam ma bạt để, là thư hùng đẳng chí. Bởi vì lúc giao hợp cũng có tâm ý tập trung, niềm vui dâm dục tràn khắp thân người, giống như hiện tượng định tâm vậy. Đến nỗi, có người đề xướng các thuyết như tính mạng cùng tu. Thân tâm cùng tu, cho rằng có thể tu định trong niềm vui dâm dục của nam nữ ( xem cuốn Đạo thành Phật của Pháp sư Ấn Thuận; tr.144). Ý nghĩa tu định bị hạ thấp tới mức nhơ bẩn đến thế, thực là đáng thương hại vậy! Thế nhưng, điều này cũng cho ta thấy, Ấn Độ có một quan niệm rất rộng rãi về định tâm, có thể nói khác với Thiền tông Trung Quốc như một trời một vực vậy.

  Chính vì thiền định không phải là thiền tông, cho nên trong các tôn giáo trên thế giới, hễ có đôi chút hiệu nghiệm thần bí đều là do công phu thiền định mà ra, dù rằng đó là do trì chú, lễ bái, tụng niệm hay là cầu đảo mà được.

   Vì vậy cho nên, phàm phu và cả đến súc sanh nữa như cáo chồn, chỉ cần tâm chuyên nhất vào một cảnh là có ngay ít nhiều hiệu nghiệm thần bí, gọi là thần thông. Nhưng, đó hoàn toàn không phải là thiền tông Phật giáo. Vì Thiền tông Phật giáo tuyệt đối không có chủ trương tự cho có phép thần thông.

                             (Trích Phật giáo Chánh tín: HT Thánh Nghiêm)

 

PHỤ ĐỀ: Thiền có nhiều loại thiền, nhưng tựu trung nằm trong 5 loại thiền: Phàm phu thiền, Ngoại đạo thiền, Đại thừa thiền, Tiểu thừa thiền và Tổ sư thiền.

Phàm phu thiền, là loại thiền cầu mong có sức khỏe về thân, không bịnh tật. Như Yoga, Pháp luân công, Nhân điện v.v.. không khổ về tâm, như buồn rầu, lo âu, sợ hãi v.v.

Ngoại đạo thiền, là loại thiền của các phái tu ngoại đạo, mục đích là cầu mong có thần thông, cầu mong lên cõi tiên cõi trời v.v..như thiền xuất hồn .. .

Danh từ ngoại đạo trong Phật giáo không phải từ chê bai, hạ thấp mà là từ chỉ cho phương pháp tu tập hướng ra bên ngoài mà cầu, như cầu thần thông, cầu lên cõi tiên, cầu lên cõi trời v.v… đạo Phật không phủ nhận các cõi trời, cõi thần tiên, nhưng đạo Phật xem các cõi ấy còn nằm trong cõi dục, còn nằm trong sanh tử khổ đau.

  Còn ba loại thiền lại sau thuộc về đạo Phật. Vì sao trong Phật giáo lại chia thiền thành nhiều pháp. Vì theo căn cơ và trình độ mà thiền Phật giáo phân thành Đại và Tiểu. Bản thân thiền không phân thành Đại, Tiểu nhưng do căn cơ trình độ tiếp nhận của người tu tập mà pháp trở nên có Đại, Tiểu, ứng thích với mọi căn cơ.

  Đại thừa thiền, là thiền dành cho căn cơ bực thượng, căn cơ nói một hiểu 10, hiểu 100, hay vừa nhìn qua thì nhận ra Tự tánh. Không cần phải tu học nhiều năm, hạng căn cơ bậc thượng rất ít, còn lại hạng Trung và hạng Hạ thì nhiều.

  Tiểu thừa thiền, là thiền giành cho căn cơ bực trung và bậc hạ, hạng này tu chỉ cầu giải thoát cho bản thân chứ chưa nhắm đến thành Phật độ sanh nên gọi là Tiểu. Còn hạng thượng căn nhắm đến thành Phật và độ sanh nên gọi là Đại.

  Tổ sư thiền, là thiền do các Tổ sư Trung Hoa sáng lập, rút ra từ thiền Đại thừa sáng lập ra thiền Tổ sư. Thiền tổ sư tu tập khác với thiền Tiểu thừa. Căn cứ vào việc Phật truyền tâm ấn cho Tổ Ma Ha Ca Diếp, mà các thiền sư Trung Hoa sáng lập nên thiền Tổ sư. Thiền tổ sư đề xướng bất lập văn tự, thấy tánh thành Phật. Thiền Tổ sư gồm có hai loại: Thiền công án và thiền thoại đầu.

  Và thiền Tổ sư bắt nguồn từ Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa truyền Pháp, đến đời Lục Tổ Huệ Năng thì được phát triển mạnh. Ngài Huệ Năng bản thân nhà quê không học, không biết chữ nhưng chỉ nghe một câu kinh của kinh Kim Cang “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì ngộ đạo. Do đó, Thiền tổ sư chủ yếu tham quán công án và thoại đầu làm cơ bản.

{]{

THIỀN TÔNG CÓ PHẢI LÀ THIỀN ĐỊNH KHÔNG. Rating: 4.5 Diposkan Oleh: CHÙA TAM BẢO TAM KỲ

0 nhận xét:

Đăng nhận xét