TỰ TÁNH LÀ GÌ?
LÀM THẾ NÀO ĐỂ CHỨNG ĐƯỢC TỰ TÁNH?
NGƯỜI CHỨNG ĐƯỢC TỰ TÁNH LÀM SAO BIẾT?
Trong Phật giáo, “tự tánh” là bản tánh chân
thật, thanh tịnh, sáng biết sẵn có nơi mỗi người. Nó không phải là cái “ta”
riêng biệt để chấp giữ, mà là nền tảng giác biết vượt lên vọng tưởng, tham sân
si và mọi phân biệt.
Nói đơn giản: Thân này thay đổi. Cảm xúc thay
đổi. Ý nghĩ thay đổi. Hoàn cảnh thay đổi. Nhưng có một “tánh biết” luôn hiện hữu:
biết buồn, biết vui, biết suy nghĩ, biết vọng động, biết cả lúc tâm yên. Cái
“biết” đó không già trẻ, không thêm bớt theo cảm xúc. Thiền tông thường gọi đó
là “bản lai diện mục”, “Phật tánh”, hay “tự tánh”.
Người chứng được tự tánh là gì? Là người
không còn chỉ hiểu bằng lý thuyết, mà trực nhận được bản tâm chân thật ấy. Giống
như: Người nghe nói về vị ngọt của mật ong là hiểu bằng kiến thức. Người tự nếm
mới thật sự biết. Chứng tự tánh cũng vậy — không phải suy luận, mà là tự thân
thấy rõ.
Tu như thế nào để nhận ra tự tánh? Các pháp
môn khác nhau nhưng đều quy về: giảm vọng tưởng, bớt chấp ngã, thanh lọc tâm, sống
tỉnh thức. Một số hướng tu căn bản
1. Giữ giới,Giới giúp tâm bớt loạn động và tạo
nền tảng thanh tịnh.
2. Định tâm, Qua: niệm Phật, thiền, quán hơi
thở, tụng kinh, chánh niệm trong sinh hoạt. Khi tâm bớt chạy theo trần cảnh thì
tự tánh dễ hiển lộ.
3. Quán chiếu vô thường – vô ngã. Thấy rõ: thân
này không bền, cảm xúc không thật, ý nghĩ chỉ sinh diệt. Dần dần cái chấp “tôi”
yếu đi.
4. Buông bớt tham – sân – si. Tự tánh vốn
sáng, nhưng bị phiền não che phủ như mặt trời bị mây che. Tu không phải tạo ra
tự tánh mới, mà là gỡ lớp che phủ. Người chứng được tự tánh có biểu hiện gì? Đây
là điều rất dễ hiểu lầm. Người thật sự có công phu thường: càng khiêm tốn, càng
bình dị, càng tự nhiên. Không nhất thiết: biết thần thông, nói huyền bí, có hào
quang, hay tỏ vẻ “ta đã ngộ”. Một vài biểu hiện thường thấy. Tâm an ổn hơn trước.
Ít bị khen chê làm dao động. Gặp nghịch cảnh vẫn có độ sáng suốt. Từ bi tự
nhiên hơn. Ít tranh hơn thua. Nhìn đời nhẹ nhưng không thờ ơ. Có sự tỉnh thức
liên tục trong đời sống. Người khác ở gần thường cảm thấy: nhẹ lòng, an ổn, không
bị áp lực hay phán xét. Có thể nhìn biết ai đã chứng tự tánh không?
Rất khó. Trong Phật giáo thường nhắc: “Phàm
phu nhìn cảnh, Bồ Tát nhìn tâm.” Có người nói đạo rất hay nhưng tâm chưa chuyển
hóa nhiều. Ngược lại có người rất bình thường, ít nói, nhưng nội tâm sâu và
sáng.
Cho nên: không nên vội tôn ai là “đắc đạo”, cũng
không nên tự nhận mình đã chứng. Người thật chứng thường: bớt nói về mình, sống
tự nhiên, không cần chứng minh.
Một điểm rất quan trọng “Thấy tự tánh” không
có nghĩa là hết mọi phiền não ngay lập tức. Có người: chợt nhận ra bản tâm, nhưng
vẫn cần tiếp tục tu tập lâu dài để tập khí mỏng dần. Thiền tông gọi là: “Ngộ rồi
còn phải tu.”
Trong kinh điển Thiền tông có câu rất nổi tiếng
của Lục Tổ Huệ Năng:
“Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,
đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt…”
Ý nói tự tánh vốn đầy đủ nơi mỗi người, không
phải từ bên ngoài đem vào./.
Bài kệ kiến tánh nổi tiếng của Lục Tổ Huệ
Năng trong phẩm "Hành Do" thuộc Kinh Pháp Bảo Đàn. Khi lần đầu tiên giác ngộ bản tâm, Ngài đã
thốt lên 5 câu nói lên các đặc tính tuyệt đối của tự tánh:
"Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt,
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động,
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp."
Nghĩa là: Bản chất chân thật bên trong mỗi
người (tự tánh) xưa nay vốn trong sạch, không sinh ra cũng không mất đi, luôn
trọn vẹn đầy đủ, không bị dao động bởi hoàn cảnh và là nguồn gốc sinh ra vạn vật./.
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét