HÒA THƯỢNG, NI CÔ, CƯ SĨ LÀ GÌ?
Hòa thượng, ni cô, cư sĩ đều là những danh từ hết sức thông tục,
nhưng e rằng, số người hiểu rõ nghĩa của những danh từ ấy không nhiều.
Theo quan niệm của người Trung Quốc, thì Hòa thượng là người xuất
gia và với thân phận là người xuất gia thì “trên ngồi cùng chiếu với vua, dưới
cùng đi với kẻ ăn mày” nghĩa là cao sang, hèn nghèo thì rất hèn nghèo. Nếu là đứng
đầu một chùa trong đại tùng lâm thì gọi là Phương trượng hòa thượng là tôn
nghiêm biết bao. Nhưng người nông dân quê mùa ở làng đẻ con sợ không giáo dục
được, cũng lại gọi nó là hòa thượng! Kỳ cục thật!.
Hòa thượng có ý tứ gì? Người ta thường giải thích hòa thượng là
Hòa trung tối thượng (nghĩa là cao nhất trong sự hòa hợp) hay là “dĩ hòa vi thượng”
(nghĩa là quý nhất là sự hòa hợp). Bởi vì người xuất gia phải sống theo nếp sống
“sáu hòa hợp” của tăng đoàn. Đó là: Giới hòa đồng tu (cùng tu giới luật), Kiến
hòa đồng giải ( cùng kiến giải như nhau), lợi hòa đồng quân ( lợi cùng chia đều),
thân hòa đồng trụ (cùng ở một nơi), khẩu hòa vô tránh (không tranh cãi nhau), ý
hòa đồng duyệt (ý hòa vui vẻ). Cách giải thích này cũng tựa hồ có lý. Nhưng tôi
có tra cứu từ nguyên, mới thấy cách giải thích trên là không đúng.
Hòa thượng hoàn toàn là do dịch âm từ một từ ngữ Tây vực (Trung Á)
ở Ấn Độ, gọi các nhà bác học thế gian là Ô tà. Qua tới nước Vu Điền (Trung Á)
thì gọi là Hòa Xã hay Hòa Xà (khosha), qua Trung Quốc, bèn gọi là Hòa thượng.
Vì vậy mà ngoại đạo ở Ấn Độ cũng có Hòa thượng và Hòa thượng ni.
Như vậy, từ Hòa thượng không phải từ riêng của Phật giáo, nhưng có
căn cứ trong Phật giáo. Luật tạng Phật giáo gọi các vị sư truyền giới và độ cho
người khác xuất gia là Opadagia (Upadhyaya) Từ Hòa xà là dịch âm từ Upadhyaya,
rồi sau đổi thành Hòa thượng. Trong sách Hán người dùng từ Hòa thượng sớm nhất
là vua Thạch Lặc, ông gọi Tăng sĩ Ấn Độ Phật Đồ Trừng là: “Đại Hòa thượng”.
Nhưng, đôi khi, trong luật, thay vì chữ Hòa thượng người ta dùng
chữ Hòa thượng để tránh hiểu lầm, vì rằng, căn cứ nội dung chữ Upadhyaya, thì
nên dịch là Thân giáo sư (ông thầy thân cận). Chỉ có những tu sĩ đã thụ giới Tỳ
kheo trên 10 năm, biết rõ hai bộ luật Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, mới có khả năng độ
cho khác người xuất gia, và truyền giới cho người khác, mới có thể được gọi là
Upadhyaya. Như thế là có khác với từ Ô tà (là bác sĩ) ở Ấn Độ, cũng khác với từ
Hòa thượng do Trung Quốc dịch sai (lão tăng là lão hòa thượng, Sa đi là tiểu
hòa thượng, và trẻ con ở nông thôn, không lớn lên được cũng gọi là hòa thượng).
Trong luật Phật giáo, người mới xuất gia gọi là Sa di, Sa di có
nghĩa là “siêng năng bỏ ác làm thiện”.
Khi đủ 20 tuổi đời, và thụ giới Tỳ kheo, thì
được gọi là Tỳ kheo (nghĩa là khất sĩ, người xin ăn). Trên thì ăn xin Phật
pháp, dưới thì ăn xin đồ ăn, đồ uống. Có người Trung Quốc giải thích Tỳ kheo so
với ông Khưu, tức ông Khổng Tử. Giải thích như vậy là chuyện trò đùa. Thọ giới
Tỳ kheo trong vòng 5 năm cũng chưa được làm thầy dạy đối với các bạn đồng đạo
xuất gia. Sau 5 năm, lại thông hiểu giới luật, mới có tư cách làm thầy dạy, gọi
là Qũy phạm sư, từ Ấn Độ gọi là “A Xà Lê”, làm nơi nương tựa cho người khác, dạy
học cho người khác. Trải qua 10 năm rồi mới được gọi là “Thân giáo sư”, trải
qau 20 năm nữa, được gọi là Thượng tọa, và sau 50 năm mới được tôn gọi là bậc
“Trưởng lão Tôn túc”. Có thể nói, hiện nay, ở Trung Quốc, người ta dùng từ “Hòa
thượng”, không đúng với luật chế nhà Phật”.
Từ “Ni cô” thường được dùng để chỉ người phụ nữ xuất gia. Ở Ấn Độ
, người ta dùng chữ ni để chỉ phụ nữa, với ý tứ tôn kính, chứ không dùng chữ ni
để chỉ riêng người phụ nữ xuất gia. Trong Phật giáo, phụ nữ mới xuất gia gọi là
“Sadini” xuất gia lâu năm, thụ Tỳ kheo ni, gọi là Tỳ kheo ni.
Dân Trung Quốc, người con gái chưa lấy chồng gọi là cô, vì vậy gọi
Sadini và Tỳ kheo Ni là ni cô, gọi như vậy cũng không có gì là coi thường. Vì vậy
mà trong sách Truyền đăng lục, các bậc đạo đức gọi các sư cô là ni cô. Thế
nhưng, từ khi ông Đào Tông Nghi, đời nhà Minh viết cuốn Xuyết canh lục xếp ni
cô vào hàng “Tam cô lục bà” thì từ ni cô mới
có ý tứ khinh miệt. Do đó, thời gian gần đây, ni chúng không muốn người tại gia
gọi họ là ni cô.
Dựa vào chữ Phạn, ni nghĩa là nữ. Nếu thêm chữ
cô nữa, thành ra nữ cô. Theo văn mà hiểu nghĩa thì dùng từ như vậy là không thông rồi. Nữ là phân biệt với nam, có
nữ cô thì phải có nam cô chăng? Đã dùng chữ cô thì phải có đối từ. Như gọi nữ đạo
sĩ là nữ đạo cô, Tỳ kheo ni gọi là Phật cô, nữ tu sĩ của đạo Gia tô cũng nên gọi
Gia cô, nếu không thì xem nặng bên này, xem nhẹ bên kia là không phải.
Từ “cư sĩ” cũng không phải từ riêng của Phật
giáo. Trong sách Lễ ký của Trung Quốc, vốn có từ ngữ “cư sĩ cẩm tịch” nghĩa là
chiếu gấm cho cư sĩ. Cư sĩ vốn có nghĩa là ẩn sĩ có học.
Ở Ấn Độ, từ cư sĩ cũng không phải là từ ngữ
do Phật giáo tạo ra. Chữ Phạn gọi cư sĩ là Ca La Việt dù là có tin Phật hay
không, đã là học giả tại gia thì gọi là cư sĩ.
Phật giáo gọi Phật tử tại gia là cư sĩ, bắt đầu
từ kinh “Duy Ma Cật”. Trong kinh, ông Duy Ma Cật có 4 tên gọi: Phẩm “Phương tiện”
gọi là trưởng giả. Phẩm “Văn Thù thăm bệnh” gọi ông là Thượng nhân và Đại sĩ.
Phẩm “Bồ Tát” gọi ông là cư sĩ. Theo sự giải thích của các ngài La Thập, Trí Giả,
Huyền Trang v.v… thì Duy Ma Cật là một vị Bồ Tát sắp thành Phật (Nhất sinh bổ xứ
Bồ Tát) ở cõi Phật A Sơ tại phương Đông, và thị hiện thành tướng người tại gia
để hóa độ chúng sanh. Vì vậy, dùng từ cư sĩ để gọi Phật tử tại gia là có hàm ý
xem cư sĩ là đạo Bồ Tát. Có thể thấy, một cư sĩ xứng đáng với tên gọi đó phải
là một vị Bồ Tát Đại Thừa, quyết không phải là một ẩn sĩ.
Thế
nhưng, trong kinh Trường A Hàm, lại gọi đẳng cấp thứ ba, tức đẳng cấp Phệ xá là
cư sĩ, lại cũng gọi vị quan coi ngân khố
quốc gia là “cư sĩ báu”, như vậy từ cư sĩ có các nghĩa thương nhân, nhà kinh
doanh, nhà doanh nghiệp./.
(Trích Phật giáo
chánh tín: HT Thánh Nghiêm)
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét