Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

SỰ HOÀ HỢP TÔN GIÁO


SỰ HOÀ HỢP TÔN GIÁO

Con người ngày nay sống trong thế giới đầy dẫy của cải vật chất, sung mãn về mọi tiện nghi trong đời sống, nhưng kỳ thực họ  vẫn không cảm thấy thoả mãn với những gì đang có. Con người vẫn thiếu thốn trầm trọng về tâm linh cho cuộc sống nội tại, khủng hoảng tâm lý, bế tắc tinh thần là những vấn đề nhức nhối và có tính cấp thiết. Đây chính là tiền đề để con người tìm kiếm các giá trị nội tâm và quy ngưỡng tôn giáo.
Nhu cầu tâm linh là một nhu cầu hết sức quan trọng trong cuộc sống. Vấn đề này chiếm một phần lớn và ảnh hưởng đến đời sống con người. Vật chất và tinh thần là hai vấn đề không thể thiếu của cuộc đời, chúng sẽ luôn song hành để hỗ trợ lẫn nhau trong việc thiết lập sự quân bình cuộc sống. Vì vậy, việc tìm kiếm nhu cầu tâm linh đang trở thành cấp thiết hơn bao giờ hết.
Tuy nhiên vấn đề không đơn giản ở chỗ là mọi người hướng cho mình một tôn giáo để an trú nội tâm, mà chính những bất đồng quan điểm trong ý thức hệ tôn giáo đã gây ra nhiều tranh cãi, mâu thuẫn dẫn đến sự xung đột, khủng bố, chiến tranh v.v...
1-Phật giáo là một triết học hay là một tôn giáo?
Từ những ý kiến bất đồng ấy, người ta cho rằng Phật giáo là tôn giáo, là một triết học, một siêu hình học v.v... Đạo Phật không phải chỉ là tôn giáo, là triết học, là khoa học, là siêu hình học. Nhưng đạo Phật có đề cập đến những thắc mắc siêu hình, ví như đề cập đến các thế giới trong vô lượng thế giới. Lại có người cho rằng đạo phật là một huyền học, một luân lý học. Vâng ! Đạo Phật là tất cả, cái gì cũng có trong đạo phật. Nhưng nếu chỉ nghiên cứu sâu xa về một mặt mà bảo rằng đạo phật chỉ là một triết học, hoặc chỉ là một luân lý hay một tôn giáo thì người ấy đã nhìn đạo phật một cách phiến diện.
       Có người cho rằng đạo Phật tuy không phải là một triết học, một luân lý, nhưng có thể gọi là một tôn giáo, bởi vì có hình thức đầy đủ của một tôn giáo. Nhưng có người thấy đạo Phật không thờ phụng một đấng tạo hoá nào, thì chủ trương ngược lại rằng đạo Phật không phải là một tôn giáo mà chỉ là một triết học.
Câu hỏi này thường nêu ra trong giới học giả, nhất là học giả phương Tây. Nhưng thật ra, chẳng có gì quan hệ trong việc đưa ra một định nghĩa nào cả. Dù người ta có gọi đạo Phật là một tôn giáo, một triết học… gì đi nữa thì đạo Phật vẫn là đạo phật. Đạo Phật không vẫn vì thế mà thay đổi chút nào về nguyên lý của nó. Khi đã là chân lý thì dù bạn có bóp méo, bạn có làm gì đi nữa thì chân lý vẫn là chân lý.  Định nghĩa này được Hoà Thượng Chơn Thiện trả lời cho giới báo chí rằng: “ Nếu tôn giáo được định nghĩa như một tổ chức tín ngưỡng tôn thờ một đấng sáng thế, thì trong ý nghĩa này Phật giáo không phải là tôn giáo. Nếu tôn giáo được định nghĩa như một con đường sống, dẫn đến sự thực tối hậu của thế giới con người, thì trong ý nghĩa này Phật giáo thực  sự là một tôn giáo của các tôn giáo”.
2- Cái nhìn toàn diện:
Trên tinh thần từ bi và trí tuệ Phật giáo thiết lập một mục tiêu đó là: “ Vì lợi ích chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì hạnh phúc an lạc cho chư thiên và loài người”.  Cho nên đối tượng mà Phật giáo nhắm đến là tất cả mọi loài chúng sanh, không phân biệt một ai, bất luận tôn giáo, nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, sang hèn…ai cũng có thể đến để tu tập và đạt được an lạc thanh tịnh trong giáo pháp này.
      Ý nghĩa sâu sắc của tôn giáo là chỗ duy trì và kính trọng tôn giáo của riêng mình nhưng không để mất đi sự kính trọng đối với các tôn giáo khác. Từ đó chúng ta sẽ thiết lập một sự hiểu biết hỗ tương, hợp tác và khoan dung  giữa những nhà tôn giáo với nhau để tất cả  cùng đạt đến sự đoàn kết và lợi lạc. Bởi vì Phật giáo nhận biết rằng sự chia rẽ thù nghịch là kết quả của tâm lý đầy dẫy tham, sân, si. Vốn nó là thứ sâu nặng, thâm căn cố đế nằm trong mỗi một chúng sanh. Phật giáo xem đây là ba thứ độc làm nguy hại đến sự an lạc, giải thoát của con người. Chính từ quan niệm cơ bản này mà Phật giáo luôn dung hội và mở ra cho tất cả đối tượng không phân biệt một ai.
       Người ta luôn luôn nói về lòng bác ái của tôn giáo và tầm quan trọng của nó, nhưng ít khi chú trọng đến cách tu tập để đạt đến sự khoan dung độ lượng. Chúng ta nên cố gắng loại bỏ cái gọi là phức cảm tự tôn luôn cho mình là hơn người, ngờ vực lẫn nhau, định kiến tôn giáo và các động cơ ích kỷ, để làm tốt đẹp và nâng cao tôn giáo mà mình đang kính trọng. Nếu chúng ta rơi vào tính chấp thủ có tính cá biệt thì khó mà có sự đồng cảm để ngồi lại để nhận diện các vấn đề. Do đó, tìm hiểu tôn giáo để tìm ra một tiếng nói chung, dung hoà giữa mọi quan điểm là điều rất cần thiết.
      Tất cả những người có tôn giáo đều phục vụ cho một nguyên lý chung của nhân loại là giải thoát và giác ngộ. Việc truy tìm giải thoát và giác ngộ là việc tìm cầu chân lý. Bất hạnh thay! Chính trong chúng ta có nhiều cách thực tập và niềm tin tôn giáo buồn cười được mô tả  tương tự chân lý nhưng thực sự chúng cách xa chân lý. Những nhà tôn giáo chân chính phải có can đảm và lòng tin để xác định những gì là nhận thức sai lầm và cố gắng chính lý làm cho phù hợp để đáp ứng các yếu tố cần thiết của chân lý. Sẽ thất bại nếu chúng ta cố bám víu vào những điều không phải là chân lý. Chúng ta sẽ sai lầm nếu trong lúc tu tập tánh khoan dung mà lại không tương xứng, không phù hợp với chân lý.
       Mục đích của Phật giáo là hướng dẫn mọi người sống đời sống thánh thiện, không bao giờ có tâm hãm hại người khác, trau giồi phẩm chất con người để đạt chân giá trị nhân bản, toả sáng lòng từ bi bao la bình đẳng đến tất cả, không có sự phân biệt, tu tập tâm tránh điều ác và thanh tịnh tâm để đạt an lạc và hạnh phúc. Phật giáo nhận ra rằng toàn thể hiện tượng giới điều nằm trong một chuỗi tương tác, cái này hỗ tương cho cái kia để cùng nhau tồn tại. Sự tồn tại giữa mọi người là một sự hoà điệu có tính bất khả phân. Do vậy, không nên có thái độ thù ghét, loại bỏ nhau. Vì thù ghét loại bỏ nhau tức là thù ghét và loại bỏ chính mình. Phật giáo nhận thấy được khả năng của con người. Ai cũng sẵn có tánh giác, chỉ vì chưa có cơ duyên để tỏ ngộ ra mà thôi. Cho nên thay vì loại trừ nhau thì người phật tử cần phải có thái độ ôm ấp để chuyển hoá.
       Đức Phật không bao giờ khuyên ai cải đạo từ tôn giáo này sang tôn giáo khác. Lý tưởng giáo hoá của Ngài là giới thiệu cách sống chơn chánh, thánh thiện, Phật giáo nhắm đến phần tri thức nhiều hơn phần tình cảm và chú trọng đến phẩm cách của hàng tín đồ hơn là sức mạnh về số lượng. Chúng ta xem Đức Phật  đối xử với nhà triệu phú Upali, một tín đồ của đạo Ni Kiền tử. Ông này cảm mến đức Phật và muốn quy y theo Ngài.
      Đức Phật khuyên rằng: “Này người cư sĩ, ông hãy suy nghĩ cặn kẽ. Một người lỗi lạc như ông nên suy tư cẩn thận trước khi làm điều gì”. Nghe những lời nói đầy lòng bao dung ấy, trưởng giả Upali lại càng thêm  phần cảm kích sung sướng, “Bạch đức Thế Tôn, nếu con đến một vị đạo sư khác và xin theo để tu học, các đệ tử của vị ấy kiệu con lên, rồi đi khắp đường phố hò reo, công bố rằng triệu phú gia này đã từ bỏ tôn giáo mình để  đi theo đạo sư kia, Bạch Đức Thế Tôn, Ngài thì trái lại, khuyên con hãy đi về suy nghĩ lại. Con càng thêm thoả thích với lời khuyên dạy vàng ngọc ấy”.
Mặc dù nhà triệu phú Upali đã quy y và thành đệ tử của Phật do sự hiểu biết và lòng tự nguyện của ông, Đức Phật vẫn bi mẫn vô biên, khoan dung độ lượng khuyên ông cứ tiếp tục hộ trì bậc đạo sư cũ. Quả thật đây là một thái độ hết sức rộng lượng, bao dung mà có thể nói chỉ trong Phật giáo mới có thái độ như vậy.
3- Tôn giáo chân chính
Để trả lời cho câu hỏi cái gì cấu thành một tôn giáo đích thực, Đức Phật đã đưa ra một sự khẳng định vô tư và bất kỳ nơi nào pháp Tứ diệu đế và Bát chánh đạo được tìm thấy và nơi nào có người tu tập chân chính để đạt đến sự tiến bộ tâm linh thì nơi đó được xem là tôn giáo đích thực. Ngài không nói rằng Phật giáo là tôn giáo chân chánh duy nhất trên thế gian này mà Ngài cổ vũ con người chấp nhận và tôn kính chân lý đối với bất kỳ nơi nào chân lý thật sự được tìm thấy. Điều này có nghĩa là chúng ta không nên xem thường các lời dạy hợp lý của những tôn giáo khác. Một thái độ như vậy rõ ràng cho thấy Đức Phật không bao giờ có thành kiến đối với các tôn giáo khác. Ngài cũng không độc quyền nắm giữ chân lý, qua sự nỗ lực tu tập tư duy thiền định, gạn lọc thân tâm để đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Ngài muốn chỉ ra một điều duy nhất là: chân lý; và tất cả lời dạy của Ngài đều dựa trên Tứ đế: Chân lý về khổ, nguyên nhân của nó, sự đoạn diệt khổ và con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ.
Lúc nào Đức Phật cũng khuyên các đệ tử của Ngài làm những điều cần nên làm, không chỉ vì lợi ích và hạnh phúc của riêng mình mà còn vì lợi ích và hạnh phúc của những người khác. Là một nhà cải cách xã hội vĩ đại, Đức Phật đã khám phá ra cội gốc sâu xa khổ đau của con người, chính là tham,sân, si đã cắm sâu trong tâm con người từ vô thỉ. Những thứ này ngủ ngầm, sẵn có ở trong tâm chúng ta và trực tiếp chi phối mọi tư duy, hành động của con người. Do đó, chỉ có sự cải thiện đúng nơi tâm con người mới có thể mang đến hiệu quả. Khi nội tâm vắng mặt các phiền não, lậu hoặc thì tâm trở nên thư thái, an lạc giải thoát. Sự cải thiện thế giới bên ngoài dựa trên thế lực hoặc sức mạnh thì chỉ có thể kéo dài trong một thời gian ngắn, nhưng sự cải cách xuất phát từ chuyển hoá nhận thức bên trong của con người thì lâu bền hơn.
Những nhà trí thức phát biểu suy nghĩ của mình về Phật giáo như sau:  Giáo sư Rhys Davids nói: “Dầu là Phật tử hay không phật tử, tôi nghiên cứu từng hệ thống tôn giáo lớn trên thế gian và trong tất cả, tôi không tìm thấy trong tôn giáo nào có cái gì cao đẹp và toàn vẹn hơn Bát chánh đạo của Đức Phật. Tôi chỉ còn có một việc làm là thu xếp nếp sống cho phù hợp với con đường ấy”.
Aldous Huxley viết: “ Một mình trong các tôn giáo lớn trên thế giới, Phật giáo đã vạch ra con đường của mình mà không có sự ngược đãi, áp bức, kiểm duyệt hay điều tra”.
Lord Russell ghi nhận: “Trong tất cả tôn giáo lớn của lịch sử, tôi chọn phật giáo, đặc biệt trong những hình thức nguyên thuỷ; bởi vì ở đây yếu tố ngược đãi là nhỏ bé nhất”.
Chừng ấy cũng đủ nói lên được vai trò và giá trị của đạo phật đối với nhân loại như thế nào. Này nay, khoa học phát triển thì những lời Phật dạy lại được càng sáng tỏ hơn rất nhiều. Giáo lý Phật giáo vẫn còn sống động trong việc áp dụng vào đời sống của con người. Giáo pháp ấy có thể dùng để trị liệu các căn bệnh tinh thần có tính trầm kha, nhất là vấn đề tâm lý trị liệu, để con người có được sự bình ổn, an lành trong cuộc sống hiện tại.
          4. Hoà hợp tôn giáo:  Các nguyên lý tôn giáo đều có mục đích phục vụ con người. Nếu có nhóm cá biệt nào của nhân loại mà không áp dụng các đức tính cao quý được dạy bởi tôn giáo như từ bi, kiên nhẫn, khoan dung và hiểu biết thì sẽ khó cho những người khác chung sống hoà bình.  Chất liệu từ bi và bình đẳng rất cần thiết cho con người. Thiếu tình thương, con người sẽ trở nên khô cằn, héo úa, sự sống cũng không còn ý nghĩa gì nữa. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người sống có tính độc lập cá biệt, không thích sự hoà hợp hoà giải, ưa hận thù chiến tranh. Nhưng khổ nỗi các việc làm đó ảnh hướng đến đời sống rất nhiều người, nhất là đụng đến vấn đề tôn giáo. Những người tu tập theo tôn giáo chân chính không có lý do nào để đấu tranh, mà luôn thể hiện tính cách hoà bình. Một tôn giáo chân chính không bao giờ khuyến khích các hình thức bạo động dưới bất kỳ hoàn cảnh nào. Đồng thời không có sự phận biệt chủng tộc khi người ta  thực hành phương pháp tu tập. Người Phật tử có thể sống và làm việc với những người khác đạo mà không có bất kỳ thái độ thù địch nào. Người Phật tử không bao giờ làm máu đổ trong sự phân biệt giữa họ với những người tôn giáo khác vì lợi ích của tôn giáo.
Quan điểm này đã được Đức Phật tuyên bố, hay nói cách khác là rống tiếng rống sư tử oai hùng khi Ngài còn tại thế: “ Không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn và dòng máu cùng đỏ”. Người xấu xa tội lỗi, dầu ở đẳng cấp nào cũng phải tái sanh vào cảnh khổ, còn người hiền lương đạo đức thì sẽ sanh vào nhàn cảnh. Người đã gây tội ác thì bất luận ở đẳng cấp nào cũng phải chịu hình phạt. Và Ngài nhấn mạnh, khi xuất gia nhập chúng thì mọi người đều được kính nể tôn trọng bằng nhau, không có bất luận sự phân biệt nào.
Các tôn giáo khác nhau có thể có những niềm tin và những quan điểm khác nhau đối với sự khởi đầu và chấm dứt của sự sống và cũng như sự diễn giải khác khác nhau về lý tưởng giải thoát tối thượng và con đường tu tập thực nghiệm tâm linh. Nhưng chúng ta không nên bận tâm đối với những vấn đề không đồng nhất tạo ra sự xung đột, mâu thuẫn, hiểu lầm, hận thù và đấu tranh. Có nhiều đức tính chung đủ để các nhà  tôn giáo trình bày lý thuyết và thực tập, để con người có thể sống đời sống chân chính, an lạc và có văn hoá.
Phật giáo khuyến khích sự hợp tác và hiểu biết trong các tôn giáo khác. Chúng ta có thể ngồi lại với nhau để giải quyết các vấn đề. Từ quan điểm này của Phật giáo, nhãn hiệu tôn giáo không phải là điều quan trọng nhất đối với người được xem là có tôn giáo. Nhưng một người hướng dẫn đời sống tâm linh thánh thiện, vô hại có thể được xem như là có tôn giáo.
Những người vạch lỗi và chỉ trích Phật giáo chỉ có thể làm được điều đó ở mức độ cạn cợt. Họ có thể chỉ trích các pháp môn tu tập truyền thống, các cách thức và nghi lễ nhưng không thể chỉ trích nguyên lý đã được Đức Phật  thiết lập. Vì những nguyên lý này là hoàn thiện ở mọi thời. Mọi người có thể tu tập được những nguyên lý này nếu họ muốn.
       Theo Đức Phật, con người do tính tự ngã mạnh mẽ nên phân biệt có sai khác, khi điều này lắng dịu thì mối quan hệ lành mạnh giữa những con người với nhau sẽ phát triển. Hay nói cách khác, con người phải tự mình làm rơi rụng bớt chút ít tự ngã của mình thì vấn đề sẽ dễ chịu hơn nhiều.  Bởi vì chính tự ngã của mỗi người sẽ đụng độ với nhau làm cho sân hận nổi lên. Mỗi người ai cũng bảo vệ cái tôi của mình thì khó mà có sự hoà hợp, hoà giải. Tìm cầu cách sống hoà bình, an lạc phải bắt đầu từ bên trong, buông xả những thủ chấp này, chứ không phải bên ngoài mà được. Nếu các nhà tôn giáo ngày nay không  thể cùng nhau làm việc trong sự hoà hợp, bình đẳng không có sự phân biệt hoặc thái độ thù nghịch đối với người khác thì hoà bình mà chúng ta nói đến sẽ chỉ là trong giấc mơ mà thôi.
Khi những nhà tôn giáo chân chánh thật lòng nối vòng tay lớn, hợp nhất những nỗ lực lại với nhau thì sẽ loại từ được tất cả những tranh luận, phân biệt giáo lý sai khác, và sẽ cố gắng phổ biến những giá trị tâm linh của những tôn giáo khả kính vì sự an lạc và hạnh phúc cho con người, mà không phân biệt tín ngưỡng hoặc chủng tộc nào. Chúng ta cần nhớ rằng tôn giáo hiện hữu là vì lợi ích của nhân loại, và như vậy không nên lạm dụng quá mức trong bất cứ cách nào chỉ vì lợi ích và vinh quang của cá nhân.
5- Sự hợp nhất:  Con người đã bị phân hoá quá nhiều và quá thường xuyên chỉ vì những danh hiệu và những tên gọi. Đáng lẽ nên tìm hiểu ý nghĩa và nội dung đích thực thì ngược lại chúng ta lại nắm giữ và chấp mắc những danh hiệu và tên gọi. Thay vì cố gắng tìm biết một người nào đó thực sự là người như thế nào và người ấy thực sự tin tưởng cái gì thì ngược lại chúng ta đã đánh giá và kỳ thị vì tên gọi hay danh hiệu của người đó. Chúng ta đã mường tượng ra một ý nghĩa chung chung cho một tên gọi hay danh hiệu nào đó rồi cứ yên chí cho rằng người nào có tên gọi hay danh hiệu như thế thì người đó đại để là như vậy.
Những đầu óc hẹp hòi sẽ nghĩ rằng: “Nếu họ là một người phật tử Nguyên thuỷ thì họ sẽ không nghe theo những giáo lý của Đại thừa. Nếu họ là một người Thiên Chúa giáo thì họ không nghe theo lời dạy của Phật giáo. Nếu họ có niềm tin tôn giáo thì họ không  còn tinh thần khoa học nữa.”
Trong đạo Phật, hai phẩm chất mà chúng ta cần phải làm cho tăng tiến đó là trí tuệ và từ bi. Nếu chấp chặt vào tôn giáo thì chúng ta sẽ cảm thấy xúc phạm khi gặp một người ngoại đạo không có niềm tin như mình và từ đó không tin tưởng, không kính thờ những gì mình đang kính thờ. Khi đó ta sẽ sinh ra bực tức và  manh động rồi ra sức bảo vệ cho niềm tin của mình và công kích người kia.
Đến giai đoạn này thì chúng ta không còn ra sức tìm hiểu sự thật nữa, mà chỉ có một việc duy nhất trong đầu là bênh vực tôn giáo của mình cho bằng được. Lý do duy nhất vì đó là tôn giáo của chúng ta. Cài gì thuộc về của chúng ta là hơn hết. Một tâm lượng hẹp hòi và sân giận như vậy sẽ tạo nên những vết hằn đen tối ác nghiệp trong tâm thức. Những nghiệp xấu này sẽ che ngăn, khiến cho trí tuệ không thể tăng trưởng hay phát triển cao siêu hơn được nữa.
Mặt khác, tâm sân giận là tâm đối nghịch với lòng từ, lòng mong muốn cho tất cả mọi người đều đạt được hạnh phúc và thoát khỏi mọi khổ đau. Rõ ràng là đầu óc cục bộ đã cản trở, không cho khả năng trí tuệ và lòng từ bi phát triển. Đầu óc cục bộ sẽ không đưa đến sự giác ngộ. Ngược lại nó sẽ đưa chúng ta đi càng ngày càng xa sự giác ngộ giải thoát và an lạc. Khi có sự suy xét rõ ràng, sẽ có những nhận định đúng đắn rằng, tất cả các tôn giáo đều có chung những điểm chủ yếu sau đây:
(1)  Tất cả tôn giáo đều nhận thức rằng chỉ tạo ra sự phồn thịnh về mặt vật chất mà thôi thì không phải là con đường đưa đến an vui.
(2) Có một trạng thái an lạc thuộc tâm linh cao cấp hơn so với những trạng thái khoái lạc có được ngang qua các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) của con người.
(3) Tất cả tôn giáo đều ra sức khuyến khích và giúp đỡ con người hoàn thiện bản thân qua việc tu dưỡng sức kiên nhẫn, lòng thương yêu và tánh tôn trọng mọi người.
(4) Mọi tôn giáo đều muốn con người tăng cường thiện cảm với con người và biểu hiện thiện cảm đó bằng cách phục vụ cho tha nhân.
(5) Để đạt được mục đích này tất cả tôn giáo và tín ngưỡng đều nêu cao những giá trị đạo đức để giúp con người chế ngự hành vi của mình.
Trong tác phẩm “ Lòng từ, sự Sáng suốt và Trí tuệ ”, Đức Đạt lai Lạt ma đã nói:  ‘Mục tiêu của tất cả sự tu tập tôn giáo đều giống nhau là  thương yêu, chân thành và tôn trọng sự thật. Phong cách sống của tất cả những người có tu tập thật sự là an vui và tự tại. Những lời dạy về đức tính bao dung và tấm lòng từ ái đều giống nhau. Tất cả tôn giáo đều có mục đích cơ bản là lợi lạc nhân sinh, tuy là làm theo phương thức riêng, khác biệt nhau nhưng mỗi tôn giáo đều ra sức giáo hoá con người để cho con người trở nên tốt hơn và thánh thiện hơn. Nếu chúng ta quá trọng thị và quá chấp chặt vào nền triết học, tôn giáo, hay học thuyết riêng chúng ta, rồi tìm cách áp đặt nền triết học, tôn giáo hay học thuyết của riêng chúng ta lên thân phận của tha nhân thì hậu quả sẽ là bất an và rối khổ. Sự sáng suốt, đạo đức và lòng thương yêu là những phẩm chất có giá trị phổ quát, trùm khắp tất cả không gian và thời gian trong vũ trụ.
Theo quan điểm của Phật giáo thì sự đa dạng phong phú của triết thuyết là có lợi lạc. Vì sao?  Vì không phải ai cũng thấy sự vật một cách giống nhau. Con người ta có trình độ khác nhau, cảm thức khác nhau, tánh khí khác nhau nên có nhiều dạng, nhiều loại tôn giáo khác nhau cùng hiện diện thì thật là lợi lạc. Nhờ vậy người ta có thể chọn lựa tôn giáo nào thích hợp với cá nhân mình nhất mà tin theo và hành trì. Vấn đề cốt yếu là mỗi một người hãy nỗ lực nhiều hơn trong sự hoàn thiện nhân cách đạo đức tiêu chuẩn  của con người, hãy thương yêu nhau trong tình đồng loại, và bình ổn tâm để tự kiến tạo cho mình một cuộc sống an lành, thánh thiện.
 VHPG số: 313-314- ngày 15-1-2019_  Thích Trung Định
{]{

SỰ HOÀ HỢP TÔN GIÁO Rating: 4.5 Diposkan Oleh: CHÙA TAM BẢO TAM KỲ

0 nhận xét:

Đăng nhận xét