PHẬT
TỬ CÓ HIẾU THUẬN VỚI CHA MẸ KHÔNG?
Đúng
là ở Trung Quốc, có một số nhân sĩ thích
phê bình Phật giáo là đạo bất hiếu, vì họ cho rằng xuất gia làm Tăng Ni, không
có con nối dõi tông đường, là việc đại bất
hiếu. Suy nghĩ như vậy là do quan điểm và tư tưởng gia tộc hẹp hòi của họ vì Mạnh
Tử nói: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”(Bất hiếu có ba, không có con là tội lớn
nhất). Tuy rằng, đây không phải là tư tưởng chủ yếu của Nho gia, nhưng ngay
trong thời hiện nay, cũng có một số nhà Nho thiên chấp, phê bình Phật giáo là
tôn giáo bất hiếu. Thật ra, trong các kinh Phật Tiểu thừa và Đại thừa, những lời
dạy về đạo hiếu đối với cha mẹ, có thể nói là nhiều không kể xiết. Chỉ cần đọc
vài bộ kinh, liền thấy rằng Phật giáo không
những không phải là bất hiếu, mà còn là một tôn giáo cực kỳ tôn trọng đạo hiếu.
Trong kinh “Bản Sanh tâm địa quán”có câu: “Đối với cha, có ơn về lòng từ, đối với
mẹ có ơn về lòng bi, ân bi của mẹ, dù ta có ở lại thế gian này một kiếp, nói
cũng không hết được”. Vì vậy lại nói: “Trải qua một kiếp cứ mỗi ngày, cắt thịt
mình để nuôi dưỡng cha mẹ, cũng không báo đáp được ân một ngày”. Lại nói: “Vì vậy, các người phải hết lòng hiếu
dưỡng cha mẹ; phúc đức hiếu dưỡng cha mẹ cũng bằng phúc đức cúng dường Phật.
Các người phải báo ơn cha mẹ như vậy”. Tăng Nhất A Hàm Quyển 11 nói rằng: cúng
dường cha mẹ, cũng như cúng dường vị Đại Bồ Tát sắp thành Phật. Trong sách Ngũ
Phần luật, cuốn 22, kể câu chuyện: “Khi Phật còn tại thế, có một A La Hán, đệ tử
Phật, tên là Tất Lăng Già Bà Sa, vì cha mẹ nghèo muốn đem đồ ăn thứ mặc cúng dường
cha mẹ, nhưng không dám, bèn hỏi Phật. Phật triệu tập các Tỳ kheo lại nói rằng:
Nếu như một người, trong một trăm năm, vai bên trái cõng cha, vai bên phải cõng
mẹ, dù cho cha mẹ có đại tiểu tiện ở trên mình, và đem đồ ăn thức mặc quý nhất ở thế gian cúng dường cha mẹ,
thì vần không báo đáp được cái ơn trong giây phút của cha mẹ đã nuôi dưỡng
mình. Từ nay về sau, các tỳ kheo hãy chăm lo suốt đời cúng dường cha mẹ, nếu
không cúng dường thì phạm tội nặng”.
Kinh Tăng Nhất A Hàm cuốn 11 cũng có lời dạy của Phật tương tự như vậy.
Trong kinh “Bề Bà Lăng Kỳ”kể chuyện: “Có một công nhân nghèo ở vào thời Phật Ca
Diếp tại thế, tên là Nam Đề Bà La tin theo Phật giáo, sống hoàn toàn như xuất
gia, nhưng vì để nuôi dưỡng hai cha mẹ già mù lòa, cho nên vẫn làm nghề đồ gốm
duy trì sinh hoạt mà không xuất gia.”
Sự
thực, Phật giáo tuy cho rằng xuất gia ly dục là đáng quý, nhưng cũng không cưỡng
ép phải xuất gia. Thậm chí, trong giới luật, có quy định rõ: “Cha mẹ không đồng
ý thì không được xuất gia; nếu cha mẹ nghèo, không có ai phụng dưỡng, thì con
cái dù đã xuất gia cũng hết lòng phụng dưỡng nếu không thì phạm tội nặng. Kinh
Ni đà na căn bản quyển 4 cũng nói: “Nếu xuất gia, ở nơi có cha mẹ thì vẫn phải
cung cấp đầy đủ cho cha mẹ”. Như vậy sao nói được đạo Phật là bất hiếu? Đương
nhiên, những người có đầu óc hẹp hòi, ấu trĩ vẫn nói là phải lập gia đình, sinh
con đẻ cái mới là có hiếu! Với những người như vậy thì còn nói làm sao được!
Không lạ gì ngày nay, người thế tục nói chung chỉ nuôi được con cái mình rất ít
người nuôi dưỡng được cha mẹ. Đó cũng là kết quả của hệ mê tín “vô hậu vi đại”.
Thực
ra đạo hiếu của Phật giáo là không thể hiểu được đối với những người còn mê
thuyết “vô hậu vi đại”. Phật giáo cho rằng, người ta sống trong vòng sống chết
luân hồi, đòi này cố nhiên là có cha mẹ, trong vô số vô lượng đời quá khứ và vị
lai, đã có và sẽ có vô số cha mẹ. Hiếu dưỡng đối với cha mẹ đời nay, cũng phải
cứu độ cha mẹ, đời quá khứ và vị lai.
Trong con mắt của vị Bồ Tát thì “mọi người
con trai đều là cha mình, mọi người con gái là mẹ mình, đời này qua đời khác,
ta sinh ra từ họ”(Kinh Phạm Võng). Vì vậy, thực hành đạo Bồ Tát độ khắp chúng
sanh, tức là hiếu thuận với cha mẹ. Đương nhiên, Phật giáo không phải giống như
Mặc Tử đã từng bị Mạnh Tử phê bình là “xem cha người như cha mình, tức là không
có cha”. Phật giáo chủ yếu nói tới cha mẹ của đời sống này, từ đó suy rộng ra cả
ba đời. Vì vậy, Phật giáo cho rằng độ khắp chúng sanh là mở rộng việc báo ơn đối
với cha mẹ, gọi là báo ân chúng sanh. Đó là từ ở cha mẹ mà suy rộng ra chúng
sinh. Vì vậy, Phật tử trước hết phải hiếu dưỡng cha mẹ, rồi sau mới bố thí,
phóng sanh và cúng duờng Tam Bảo.
Thói
quen thế tục tổ chức ngày sinh nhật thành một dịp ăn uống linh đình, phát xuất
từ một tư tưởng không chính đáng. Theo quan niệm Phật giáo, ngày sinh nhật của
con cũng là ngày đau đớn của mẹ. Cho nên, ngày sinh nhật của con phải là ngày
người con bày tỏ lòng thương đối với cha mẹ, lòng thông cảm của người con đối với
những nổi đau đớn của mẹ, khi con sắp ra đời, lòng biết ơn của con đối với đấng
sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ, phải tỏ lòng biết ơn đó gấp bội, gấp trăm bội
lần vào ngày sinh nhật của mình, thay vì tổ chức sinh nhật thành ngày ăn uống
linh đình. Nếu cha mẹ đã qua đời thì nhân ngày sinh nhật của mình, làm các công
việc thiện như bố thí, phóng sanh, cũng dường Tam bảo, rồi đem công đức ấy hồi
hướng vong linh của cha mẹ, tự mình cũng được phước đức. Trái lại, nếu nhân
ngày sinh nhật mà giết gà vịt, lợn, bò, ăn nhậu thì sẽ không được phước mà còn
giảm phúc, giảm thọ.
Trích: Phật giáo chánh Tín:
HT Thánh Nghiêm.
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét