NÔ LỆ TÂM LINH (tiếp theo và bổ sung bài Giải căn hay lo sợ)
Khi con
người đánh mất quyền làm chủ chính mình, thì mọi mê tín dị đoan sẽ dẫn dường đi
xa Chánh tín, Chánh pháp lạc vào đường tà
không hề hay biết để quay đầu, cứ thế mà đi mãi.
Trong đời
sống hiện đại, có một dạng nô lệ rất khó nhận ra: đó là nô lệ tâm linh. Người
ta có thể tự do về thân, có công việc, có gia đình, có điều kiện sống đầy đủ,
nhưng bên trong lại bị trói buộc bởi những nỗi sợ vô hình. Mọi quyết định đều
phải “xin phép”, mọi hành động đều phải “xem trước”, và mỗi khi gặp chuyện
không thuận, liền cho rằng có một thế lực nào đó đang chi phối đời mình. Khi ấy,
con người không còn sống bằng trí tuệ của chính mình nữa, mà sống bằng sự lệ
thuộc.
Ban đầu,
đó chỉ là niềm tin. Nhưng khi niềm tin không có sự hiểu biết soi sáng, nó dần
biến thành xiềng xích. Người ta bắt đầu lệ thuộc vào thần linh, sợ ma quỷ, hoặc
tin tuyệt đối vào một “Đấng”nào đó có quyền ban phước giáng họa. Họ nghĩ rằng
chỉ cần cầu xin, cúng bái, làm đúng nghi thức thì sẽ được bảo vệ, được ban cho
điều mình mong muốn. Ngược lại, nếu lỡ làm sai hay thiếu sót, họ sống trong bất
an, lo sợ bị trừng phạt. Chính niềm tin thiếu sáng suốt ấy đã biến những hình
tượng tâm linh trở thành đối tượng để bám víu, rồi từ đó sinh ra lệ thuộc.
Nguy hiểm
hơn, có người không chỉ lệ thuộc vào những hình thức vô hình như thần linh hay
ma quỷ, mà còn lệ thuộc vào con người – những người tự xưng có khả năng “kết nối”,
“giải nghiệp”, “đoạn nghiệp”, “điều khiển
vận mệnh”. Mỗi lời nói của họ trở thành mệnh lệnh, mỗi chỉ dẫn trở thành khuôn
khổ phải tuân theo. Từ đó, người tin dần đánh mất khả năng tự suy xét, tự quyết
định, và tự chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình.
Cái gốc
của nô lệ tâm linh không nằm ở thần linh, ma quỷ hay bất kỳ “Đấng”nào, mà nằm
ngay trong tâm mỗi người. Đó là sự sợ hãi, là lòng tham cầu, và là sự thiếu hiểu
biết về chính mình. Khi sợ khổ, con người dễ tin vào bất cứ điều gì hứa hẹn giải
khổ nhanh chóng. Khi mong cầu quá nhiều, con người dễ bám vào những con đường tắt.
Và khi không hiểu rõ tâm mình, thì rất dễ để nỗi sợ và ham muốn dẫn dắt, rồi
gán ghép tất cả cho một quyền lực bên ngoài.
Khi tâm
không làm chủ, lòng tin chánh tín không còn, luật nhân quả không hiểu thì dễ sa
vào tà thuyết. Đạo Phật lấy luật nhân quả làm cơ bản để tu tập chuyển hóa tâm,
chuyển hóa nghiệp, chuyển hóa hoàn cảnh. Trái lại tin vào những tà thuyết để rồi
đánh mất bản tâm con đường tu tập càng xa mục đích giải thoát, hiện tại tâm bất
an tương lai đi vào đường khổ./.
TỪ BI
VÀ CHÁNH NIỆM
Vừa rồi, chúng ta nghe qua bài “So sánh giữa
Từ bi và Bác ái”Nay chúng ta nghe tiếp bài
“PHẬT TỬ TẠI GIA, MỖI NGÀY CHỈ CẦN
LÀM ĐÚNG HAI VIỆC … “. Bài này rất dài 15 trang nên ban biên tập rút tóm
lại 2 trang để các hành giả nghe và nắm bắt ý trước khi đọc hết bài “Phật tử tại
gia…”
Như
chúng ta đã nghe qua lời mở đề về đề tài Từ Bi:
“Những trận chiến tranh ác liệt trên thế
giới từ trước đến nay, giữa nước này với nước nọ, khu vực này với khu vực kia,
do khác màu da, khác sắc tộc, khác tôn giáo, khác chính trị, không cùng chủ nghĩa v.v..làm cho nhân loại
đau thương tang tóc, mà nguồn gốc là do tâm thù hận độc ác, thiếu Từ bi của con
người gây ra. Cho đến những sự bất hòa nho nhỏ trong gia đình, làm cho vợ chồng
ly tán, anh em xa lìa, bạn bè tuyệt giao, cũng đều thiếu Tình thương, thiếu Tâm
Từ Bi mà ra.”
Vậy thực hành đúng và đủ Tâm Từ Bi và
Chánh niệm sẽ: Chuyển hóa tâm ác thành thiện tâm, chuyển nghiệp xấu thành nghiệp thiện, chuyển
nghiệp nặng thành nghiệp nhẹ, chuyển nghiệp nhẹ thành không nghiệp. Mở ra con
đường giải thoát. Tâm Từ là gốc của mọi hạnh lành. Mọi nghiệp xấu khởi thừ tâm
sân hận, tham lam, si mê, ích kỷ …. Thì
Tâm Từ là phương pháp hóa giải và chuyển đổi nghiệp ác thành nghiệp thiện.
Vì thế Tâm Từ và Chánh niệm là giáo lý căn bản của đạo Phật.
Vì thế,
khi gom lại tất cả tinh hoa giáo lý Đức
Phật đã tuyên thuyết tóm gọn bằng hai chữ.
Từ và Tịnh. Từ là Tâm từ, Tịnh là Chánh niệm.
Và chỉ
hai điều này, nếu thực hành đúng, thực hành đủ, đã là nền tảng vững chắc để
chuyển hóa tâm, chuyển hóa nghiệp và mở cánh cửa giải thoát. Tâm từ là căn gốc
của mọi hạnh lành. Bạn thử nghĩ xem, tất cả mọi nghiệp xấu của đời người đều khởi
lên từ đâu? Từ một cái tâm sân hận, ganh tỵ, ít kỷ, chấp ngã.
Nhưng nếu
bạn có tâm từ, bạn sẽ không khởi sân vì bạn thương người. Không khởi tham vì bạn
biết đủ. Không khởi si vì bạn biết lắng nghe.
Buông bỏ.
Tâm từ là gốc rễ. Khi gốc tốt, quả sẽ tốt.
Không cần
làm nhiều điều phức tạp, chỉ cần giữ tâm thiện, không gây hại, đã là đại phước.
Chánh niệm là con dao mổ tâm. Tâm từ là đất lành.
Chánh
niệm là ánh sáng để nhận diện rõ mọi thứ đang lớn lên trong mảnh đất đó. Nếu
không có Chánh niệm, bạn sẽ gieo hạt xấu mà không hay, nuôi lớn hận thù mà tưởng
là yêu thương, tạo nghiệp mà cứ tưởng là đang đúng lý. Chánh niệm giúp bạn dừng
đúng lúc, nhìn rõ bản ngã, thấy thật về vô thường, từ đó bớt chấp, bớt đau.
Chánh
niệm là chiếc gương giúp bạn soi lại mình. Phật dạy gì về công đức của tâm từ
và chánh niệm? Trong Kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật dạy, ai tu tập tâm từ trong
giây lát, người ấy cũng đã tạo phước lớn hơn cúng dường trăm lần. Chánh niệm là
đạo lộ duy nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt thoát khỏi sầu bi,
thành tựu thánh trí, chứng ngộ Niết bàn.
Tóm lại, người tu tập trong đạo Phật, cả xuất
gia và tại gia đều thực tập chỉ có 2 điều Tâm từ và Chánh niệm. Đức Phật nói
pháp 49 năm cho tứ chúng cũng chỉ mục đích hướng dẫn chúng đệ tử thực hành hai
pháp Tâm từ và Chánh niệm.
Chánh
niệm là ánh sáng soi đường, phá tan màn đêm vô minh. Tâm từ là con đường dẫn đến mục tiêu giải thoát. Nếu người tu
theo Phật bất luận Tiểu thừa hay Đại thừa, xuất gia hay tại gia đều phải thực tập
hai pháp này. Nếu thiếu một trong hai pháp này, thì dù có tu bao lâu đi nữa
cũng chỉ là môn đồ của tà ma ngoại đạo mà thôi./.
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét