HOẰNG PHÁP LỢI
SANH
Kinh Pháp Hoa nói: “Đức Thế Tôn vì một đại
Sự nhân duyên mà xuất hiện trong cõi đời. Đức Thế Tôn vì muốn cho chúng sanh
khai tri kiến Phật để được thanh tịnh mà hiện ra nơi đời. Vì muốn chỉ tri kiến
Phật cho chúng sanh mà hiện ra nơi đời. Vì muốn cho chúng sanh tỏ ngộ tri kiến
Phật mà hiện ra nơi đời. Phật ra đời vì một
nhân duyên lớn là “khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến mà xuất hiện ra đời”.
Suốt 49 năm thuyết pháp, Đức Phật duy nhất một việc đó là Hoằng pháp, tóm gọn
trong 6 từ “Khai , Thị, Ngộ, Nhập, Tri kiến”cho chúng sanh. Hoằng pháp nói cho đủ là “Hoằng pháp lợi
sanh”. Nghĩa là làm lợi mình lợi người bằng giáo Pháp của Đức Phật. Hoằng pháp
không đơn thuần là việc tuyên truyền, mà hoằng pháp lợi sanh là sự tự giác,
giác tha. Mà mục đích của sự tự giác giác tha ấy là “Vô thượng Bồ đề”. Theo
nghĩa thì mọi người đệ tử của Phật bất luận xuất gia hay tại gia đều có trách
nhiệm, bổn phận trong việc truyền trì Phật pháp.
Hoằng có nghĩa là truyền bá Phật pháp rộng ra
trong mọi tầng lớp xã hội, nhằm mục đích giúp mọi người chuyển hóa những khổ
đau bất an trong cuộc sống hằng ngày bằng giáo pháp của đức Phật.
Hoằng pháp không đơn thuần là việc thuyết giảng
giáo lý đạo Phật. Nhưng Hoằng pháp mang nhiều ý nghĩa trong một tổ chức giáo hội.
Trong giáo hội có phân ra 13 ban ngành, Ban Hoằng pháp là một trong những ban
ngành của Giáo hội, tuy tên đặt khác nhau nhưng cùng chung một mục đích là “Hoằng
pháp”. Như ban Hoằng pháp, ban Tăng sự, Ban giáo dục Tăng Ni, Ban thư ký, Ban
kinh tế tài chánh v.v.. Mọi ban ngành đều tu tập các pháp môn như nhau cùng
trên tinh thần Giới, Định, Huệ. Nếu các ban ngành đi chệch ra ngoài tinh thần
giới, định, tuệ thì đã ra ngoài Phật pháp mà trở thành ngoại đạo.
Kinh Hoa Nghiêm nói: “vong thất Bồ đề tâm,
hành chư thiện pháp thị danh chi ma nghiệp”. Quên mất tâm Bồ đề mà làm các thiện
pháp là hành động của ma nghiệp. Quên mà
còn đi lạc, huống nữa là không phát. Vậy bước đầu học Phật, tín tâm kiên cố
phát nguyện quy y, tức phát Bồ đề tâm, Bồ đề tâm là tâm cầu thành Phật. Tâm cầu
làm Phật là tâm hướng thượng, trên cầu Phật đạo dưới cứu độ chúng sanh. Tức là
tinh thần tự giác, giác tha vậy.
Lời dạy của Hòa thượng Thích Trí Quảng rằng: “Nơi
nào Tăng Ni, tín đồ đông, chưa hẳn là Phật giáo thịnh, và nơi nào Tăng Ni tín đồ
ít chưa hẳn là Phật giáo suy. Từ đó suy ra, sự tồn tại và phát triển của Phật
giáo không phải tính bằng số lượng đầu người hay chùa viện, cũng không phải
tính bằng những lễ hội đông người tham dự. Mà phải tính bằng tinh thần giáo
pháp của Đức Phật được chuyển hóa vào trong lòng của mỗi người con Phật. Sự ứng
dụng Phật pháp vào đời sống thực tiễn của mỗi cá nhân và sự lan tỏa giáo pháp
vào trong cộng đồng xã hội, đó mới chính là tinh thần hoằng pháp lợi sanh.
NHỮNG KHÓ KHĂN THỰC TẾ VÀ THỬ THÁCH CỦA THỜI ĐẠI.
Hoằng Pháp thời nay tuy có nhiều thuận lợi
hơn Hoằng pháp thời đại xa xưa, nhưng không tránh khỏi những trở ngại khó khăn.
Chúng ta đang ở giai đoạn đất nước yên bình, kinh tế ổn định, phương tiện đầy đủ,
truyền thông, truyền tin thuận lợi. Tuy vậy, hoằng pháp vẫn có những điểm thuận
lợi và khó khăn cho việc hoằng pháp.
-Trước hết khó khăn trở ngại về đời sống kinh tế: Phần đông quần chúng Phật tử chi phối bởi vấn
đề đời sống kinh tế rất lớn. Cơm áo gạo tiền là nhu cầu cần thiết cho Phật tử,
nhưng thời gian phần lớn lo cho cuộc sống gia đình nên việc đến chùa tu học là
một sự thử thách. Có những người sống bằng đồng lương không đủ chi phí, nên phải
tranh thủ làm thêm để tăng thu nhập. Còn đối với giới tuổi trẻ thì thời gian
dành cho việc học tập chiếm hết toàn bộ thời gian, cho nên việc phổ biến giáo
pháp đến cho Phật tử mọi giới, mọi tầng lớp xã hội là điều hết sức khó khăn.
Còn lại một số người có thời gian để đến chùa, nhưng khả năng tiếp thu học tập
giáo pháp rất hạn chế; vì phần đông tuổi lớn
mới đi chùa, thì sự tiếp thu và
áp dụng giáo pháp vào cuộc sống không được bao nhiêu.
- Thứ đến, đạo pháp đã và đang bị những thế lực
tà kiến đánh phá nhiều mặt, từ bên trong cho đến bên ngoài, thêm vào đó trong
Phật pháp có sự cực đoan bài xích chống phá lẫn nhau, giữa pháp môn này và pháp
môn kia của một số Tăng Ni, làm cho tín tâm của Phật tử bị chao đảo, quần chúng
bị nhiễu loạn, nghi ngờ, mất phương hướng đời sống tâm linh và sư tu tập hành
trì bị gián đoạn., bị thối thất.
Thời đại
công nghệ thông tin phát triển, mọi thế lực tà kiến lợi dụng khai thác đánh phá
nhiều mặt, lại thêm trong giới xuất gia có những vị Tăng Ni có cuộc sống sai lệch
với giáo pháp, giáo luật, vô tình là cơ hội tiếp tay cho sự chống phá của họ,
khiến cho tín đồ hoang mang mất lòng tin nơi Tam Bảo. Phần đông những Phật tử
chưa hiểu rõ Phật pháp nên cũng xuôi theo mà kích bác, hủy báng Phật pháp khiến
cho đạo Phật trở nên xa lạ với mọi người. Vì thế, sự tu học của giới xuất gia
hay tại gia, theo lời dạy của Hòa thượng Thích Trí Quảng là “phương tiện Hoằng
pháp lợi sanh, không gì bằng Đạo hạnh, chùa to Phật lớn không bằng Đạo đức”.
Vì thế, ứng dụng công nghệ thông tin một cách
thông minh và thiện xảo để làm phương tiện truyền bá Phật pháp đến mọi giới một
cách hiệu quả, nhưng cũng không quên chánh niệm tĩnh thức, không quá quên mình
chìm trong mạng xã hội, để đánh mất thời gian, mất chánh niệm và rơi vào vòng
thị phi của thế sự. Với tinh thần tự giác, giác tha mọi Tăng Ni, Phật tử xuất gia, tại gia cùng chung một lý tưởng hoằng
pháp. Một người Phật tử là một hoằng pháp viên truyền tải Phật pháp vào lòng mọi
người, xây dựng một Tịnh độ nhân gian, một xã hội an lạc hạnh phúc, cả thân lẫn
tâm.
Ngày xưa Hoằng pháp có nhiều trở ngại, giáo
pháp không thể phổ cập đến các vùng sâu vùng xa, khiến cho những người muốn tìm
đến với đạo Phật khó tiếp nhận. Ngày nay, những sự trở ngại đó được tháo gỡ, đường
sá lưu thông từ vùng thành thị đến thôn quê, từ vùng xuôi đến vùng ngược. Có đầy
đủ xe cộ, máy móc, truyền thông, truyền
tin bằng điện thoại, ghi hình, quay phim, đưa tin, giúp cho ngành hoằng pháp
thuận lợi hơn nhiều. Được nhiều giới trong xã hội tiếp nhận hiểu biết và ứng dụng
tu tập.
VỀ TRÌNH ĐỘ TIẾP THU PHẬT PHÁP.
Toàn bộ giáo pháp của Phật phân làm hai phần.
Phần căn bản và phần hướng thượng. Đối với Phật tử cư sĩ ban đầu hướng dẫn phần
căn bản, gồm Tam quy, ngũ giới, Thập thiện, Nhân quả, đặc biệt làm sâu sắc và
hiện thực hóa giáo pháp căn bản ứng dụng vào đời sống thực tiễn gia đình và xã
hội, giúp cho họ giữ gìn thiện căn và phát triển hạnh lành. Sau đó mới hướng dẫn phần hướng
thượng. Như vậy mới trọn tinh thần học Phật hướng đến giải thoát, với tinh thần
tự giác, giác tha./.
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét