BÀN
VỀ “SÁU CĂN THANH TỊNH”
Danh từ “6 căn thanh tịnh”, đối với người
không biết Phật pháp, thì xem ra rất nông cạn dễ. hiểu, thậm chí cho rằng rất
buồn cười nữa. Họ cho rằng, đã là Tăng Ni xuất gia thì sáu căn phải thanh tịnh.
Nếu có tăng ni nào vì thời gian mà “mắc”ít
chút nữ sắc và tiền tài thì báo chí làm rùm beng một cách ác ý “Vị Tăng hay Ni này sáu căn không được thanh tịnh”.
Nhưng sáu căn là gì? Thế nào là sáu căn thanh tịnh thì các nhà báo cũng không
biết nữa.
Thực ra từ ngữ “sáu căn thanh tịnh”rất có đạo
lý. Sáu căn là toàn bộ phạm vi của sinh lý học. Đối với vũ trụ và nhân sinh, Phật
giáo không phải là duy vật luận cũng không phải là duy tâm luận, mà chủ trương
duyên sanh luận, tức vạn vật do nhân duyên hòa hợp mà có. Phật giáo xem con người là sự cấu thành của ba bộ phận
tâm lý, sinh lý và vật lý. Sáu căn nói trên đây thuộc về bộ phận sinh lý học, cộng
thêm sáu trần thuộc phạm vi vật lý học và sáu thức thuộc phạm vi tâm lý học, tổng
hợp cả ba bộ phận ấy tạo thành cá nhân một con người. Sáu căn, sáu trần, sáu thức
tổng hợp lại thành 18 giới. Căn trần thức giống như cái vạc ba chân, nương tựa
vào nhau mà tồn tại, khuyết một không được. Khuyết một thì hai bộ phận kia
không tồn tại được. Vì rằng, sáu trần và sáu thức phải dựa vào môi giới sáu căn
mới có tác dụng. Sáu trần và sáu căn, phải dựa vào sự phân biệt của sáu thức mới
có giá trị. Sáu thức và sáu căn phải dựa vào bóng dáng phản ánh của sáu trần mới
có tác dụng.
Hãy dùng một thí dụ: Sáu căn như cái gương,
sáu trần là bóng dáng phản chiếu trong gương. Thức là con người phân biệt bóng
dáng phản chiếu trong gương.
Sáu căn, sáu trần và sáu thức là gì? Mới nói
ra thì rất giản đơn. Đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Do tác dụng môi giới
giữa hai bộ phận tâm lý và vật lý mà nói thì gọi chúng là sáu căn. Chúng là những
quan năng thần kinh về mặt sinh lý học. Mắt có thần kinh thấy, tai có thần kinh
nghe, mũi có thần kinh ngửi, lưỡi có thần kinh nếm, thân có thần kinh xúc và ý
có thần kinh não. Chúng là cơ sở của môi giới giữa tâm lý và vật lý, cho nên gọi
chúng là 6 căn.
Đối tượng của 6 căn là 6 trần, tức là các loại
vật chất thuộc phạm vi vật lý học. Là mầu sắc và hình sắc được con mắt thấy, âm
thanh được lỗ tai nghe, mùi hương được mũi ngửi, vị được lưỡi nếm, cảm giác
trơn nhám, mềm hay cứng của thân tiếp xúc, và “pháp”là đối tượng nắm bắt của ý
căn. Đó là 6 trần. Do 6 căn tiếp xúc với 6 trần mà sản sinh ra 6 thức có công
năng phân biệt và ghi nhớ. Nếu chỉ có 6 căn mà không có thức thì đó là cái thây
ma, không phải là người sống nữa. Vì vậy, 6 thức là những ông chủ sử dụng 6
căn; 6 căn là công cụ tiếp xúc của 6 thức với 6 trần.
Nếu vậy thì vì sao nói “sáu căn thanh tịnh?”Bởi
vì sáu căn là công cụ của 6 thức. Sáng tạo ra hành vi thiện ác lại do tác dụng
của 6 căn. Người ta sở dĩ quanh quẩn trong vòng luân hồi sanh tử là do 6 căn
không được thanh tịnh. Mọi tội ác làm ra từ thời vô thủy đến nay, đều do 6 căn
tạo ra. Như, con mắt tham sắc, tai tham âm thanh, mũi tham hương, lưỡi tham vị,
thân căn tham tiếp xúc với cái êm dịu và ý căn tham cảnh vui. Đã có tham thì có
sân. Tham và sân là do phiền não, vô minh mà có. Hợp cả ba loại thành tham,
sân, si, ba món độc kết hợp nhau, ác nhiều thiện ít, khiến cho càng xa vời ngày
thoát ly sinh tử.
Công phu tu trì đạo giải thoát khỏi sanh tử
không ở ngoài ba môn học: “giới, định, huệ”. Nhưng gốc chủ yếu của trí tuệ là
giới và định. Do đó, công phu nhập môn phải bắt đầu từ thân và tâm, tu thân và
tu tâm. Loại bỏ hết niệm ác gọi là tu tâm. Công phu chủ yếu là tu tâm là tập
thiền định. Loại bỏ mọi hành vi bất thiện gọi là tu thân, công phu tu thân chủ
yếu là giữ giới. Mục đích giữ giới là hộ trì các căn, không để cho các chuyện xấu
lọt qua các căn, vào tới nội tâm, gieo rắc hột giống sinh tử luân hồi.
Bởi vì, một người bình thường, trừ các giờ nhập
thiền thì không thể tránh khỏi vọng tưởng. Vọng tưởng giống như cái dây dẫn lửa,
thúc đẩy các căn tạo nghiệp. Giới luật nhà Phật
giống như cái thắt lưng bảo hộ, hay là dụng cụ dập tắt lửa, đặt giữa vọng
tưởng và sáu căn. Nhờ có giới luật phòng vệ, sáu căn mới dần dần trở nên thanh
tịnh. Một khi sáu căn đã được thanh tịnh, thì người tu hành đạt gần tới chỗ
siêu phàm nhập thánh.
Do vậy, đối với Tăng Ni bình thường, thì chỉ
có thể dựa vào giới luật để phòng vệ 6 căn, chứ không thể nói 6 căn đã được thanh tịnh. Quan niệm thông thường
là, một Tăng hay Ni không phạm 5 giới,
không tham lam của cải không cho, không xen vào chuyện thị phi của người khác,
thì tức là 6 căn thanh tịnh. Trên sự thực, còn tham và theo đuổi thụ dụng vật
chất thì đã không thanh tịnh trong 6 căn, dù là xem, nghe, ngửi, nếm, mặc, chơi
chỉ cần tham thích không bỏ thì đã là 6 căn không thanh tịnh. Vì vấn đề thanh tịnh
hay không thanh tịnh là vấn đề nhỏ nhiệm khó nhìn thấy (không kể quan hệ nam nữ
và tiền tài v.v..) cho nên người ta ít chú ý.
Theo sự quan sát của tông Thiên Thai, cấp vị
sáu căn thanh tịnh là thập tín vị, thuộc 10 cấp đầu trong 52 cấp vị của Bồ tát;
phải đoạn trừ kiến hoặc và tư hoặc, tương đương với đoạn trừ phiền não chướng
và sở tri chướng của tông Duy Thức, và với bước chuyển từ địa vị phàm phu phổ
thông (gọi là ngoại phàm phu) lên địa vị phàm phu hiền trí (gọi là nội phàm phu hay hiền vị phàm phu).
Theo kinh Pháp Hoa và kinh Niết Bàn, nếu thành
tựu được 6 căn thanh tịnh thì tác dụng của 6 căn có thể thay nhau. Nghĩa là bất
cứ căn nào cũng có đầy đủ tác dụng của 5 căn kia: Mắt, không những thấy, mà còn
có thể nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc v.v…tai cho đến mũi, lưỡi, thân, ý đều cũng
như vậy.
Sáu căn
thanh tịnh, có tác dụng thay thế nhau, là chuyện thần kỳ, quái lạ đối với độc
giả bình thường. Trên sự thực, 6 căn chúng ta sở dĩ không có tác dụng như vậy,
là chính vì do tự chúng ta hạn chế tác dụng của 6 căn. Nghĩa là chúng ta dùng 6
căn để nắm bắt 6 trần, chấp thủ 6 trần, trở thành nô lệ của 6 trần, bị sáu trần
chiếm lĩnh. Sắc trần xuất hiện thì con mắt ứng phó ngay. Âm thanh đối với tai,
mùi đối với mũi, vị đối với lưỡi v.v. cũng đều như vậy.
Nếu 6 căn không bị sáu trần chi phối, mê hoặc
thì 6 căn được giải thoát, được tự do. Sáu căn được tự do thì có thể được sử dụng
thay thế nhau không khó, không có giới hạn. Đó là sáu căn thanh tịnh, Sáu căn
tuy vẫn tiếp xúc với 6 trần nhưng đã không bị 6 trần chi phối, mê hoặc, dám tới
tạo nghiệp nữa. Vì vậy mà gọi là sáu căn thanh tịnh.
Nói rõ ràng hơn, 6 căn thanh tịnh không có
nghĩa là không còn có 6 căn, mà có nghĩa là các quan năng sinh lý của chúng ta
không còn chuyển theo cảnh hư huyển của 6 trần nữa, không còn bị ngoại trần làm
cho ô nhiễm nữa. Một kết quả không thể tự nhiên nhàn hạ mà có được.
Để tóm lại 6 căn, 6 trần, 6 thức như sau:
Sáu thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt
thức, thân thức và ý thức.
Sáu
căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý căn.
Sáu
trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp trần.
Sáu
thức phát động sáu căn tiếp xúc với sáu trần, 6 trần phản ảnh trong 6 căn và được
6 thức phân biệt, ghi nhớ lưu lại. Rồi lại từ trong cái “kho”ghi nhớ, bảo lưu ấy
hiển hiện ra, phát động 6 căn tiếp xúc lại với 6 trần, chấp thủ 6 trần. Đó
chính là nguyên do của cuộc vận động sinh tử luân hồi. Mục đích tu tập 6 căn
thanh tịnh là để đoạn tuyệt và siêu việt lên trên dòng chảy sinh tử luân hồi./.
(Trích
Phật pháp chánh tín: HT Thánh Nghiêm)
Nguồn sưu tầm
PHỤ
ĐỀ: Tóm lại: Thân người cấu tạo bởi ba yếu tố: Vật lý, Tâm lý và sinh lý.
Vật lý: 6 căn (tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý)
Tâm lý: 6 thức (nhãn thức, tỷ thức, thiệt thức,
thân thức..)
Sinh lý: 6 trần (Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp).
Trong ba Căn, Trần, Thức. Thức là ông chủ, 6
căn là công cụ tiếp xúc với 6 trần (sắc, thanh, hương, vị…) sáng tạo ra nghiệp
thiện, nghiệp ác.
Quá trình công phu tu tập đạo giải thoát ra khỏi
sanh tử là áp dụng Giới, Định, Huệ để
chuyển hóa 3 yếu tố căn, trần, thức từ nhiễm ô qua thanh tịnh. Trong quá trình
tu tập, ba môn Giới ,Định, Tuệ . Giới đóng vai trò quan trọng, vì giới có công
năng hộ trì, phòng ngừa, gìn giữ các căn không cho rơi vào xấu ác, để cho tâm
được an tịnh, không gieo hạt giống xấu ác vào mãnh đất luân hồi. Thứ đến thiền định, giúp cho tâm được vắng lặng,
thanh tịnh không có vọng tưởng khởi lên. Tâm yên tịnh vọng tưởng vắng lặng, trí
tuệ sẽ phát sanh. Trí tuệ phát sanh sẽ chiếu phá bóng tối vô minh. Khi có ánh
sáng của trí tuệ, vô minh không còn, tức là đã ra khỏi sanh tử khổ đau. Đó là lộ
trình tu tập từ khổ đau đến an lạc./.
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét