CẦU NGUYỆN TRONG ĐẠO PHẬT
Phần lớn chúng ta đều cầu nguyện. Dù tin vào
hiệu lực của cầu nguyện hay không, khi đối mặt với những tình huống khó khăn vượt
ngoài khả năng của mình, chúng ta có khuynh hướng đem tâm cầu nguyện. Đối với
người học Phật, cầu nguyện dường như đã
trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh. Người Phật tử nào
cũng cũng biết cầu nguyện cho mình, cầu nguyện cho người thân và cầu nguyện cho
bá tánh chúng sanh. Vậy cầu nguyện trong đạo Phật có ý nghĩa thế nào, cần được
hiểu ra sao và thực hành cầu nguyện đúng pháp là gì…một số ván vấn đề căn bản cần
phải biết..
Cầu nguyện cho ai?
Với tâm lý thường tình,, hầu hết chúng ta đều
mong những điều tốt lành đến với những người thân yên và bản thân mình, cầu
nguyện cho người quá cố lẫn người hiện tại. Đối với người quá cố, có ba lý do
chính khiến người ta cầu nguyện.
Một là nhu cầu tâm lý gắn bó giữa kẻ ở và người
đi và ta muốn che chở, giúp đỡ cho họ.
Khi còn sống bên nhau, ta có thể làm nhiều thứ cho người thân yêu của mình. Một
khi người thân mất đi, ta bất lực. Do đó, nhiều người tin rằng, nhờ cầu nguyện,
chúng ta “gởi gắm” người thân của mình để nhờ một đấng thiêng liêng nào đó giúp
đỡ! Với cách này, người cầu nguyện cảm thấy tâm lý nhẹ nhàng hơn, yên tâm hơn khi có cảm giác có thể tiếp tục ở
bên cạnh và hỗ trợ cho người thân đã mất.
Hai là tâm lý muốn được che chở bởi người quá
cố. Chính vì không hiểu được những gì đang xảy ra với người thân đã mất, chúng
ta thường tưởng tượng rằng họ có một năng lực đặc biệt hơn người còn sống, nên
chúng ta cầu nguyện họ che chở, phù hộ cho mình được mạnh khoẻ, thành công bình
an trong cuộc sống. Lúc này, người thân đã mất trở thành đối tượng để ta cầu
xin. Ba là, thoạt nghe rất nghịch lý, đó
là cầu nguyện vì sợ người thân quá cố trở về quấy nhiễu làm xáo trọn cuộc sống
của mình mà nhờ thế lực siêu nhiên can thiệp để vô hiệu hoá điều này nhằm giữ cho cuộc sống chúng ta được bình yên.
Đối với bản thân mình và người thân còn sống,
chúng ta có thể kể đến hai lý do khiến người ta cầu nguyện. Một là mong ước có
cuộc sống hạnh phúc và hai là sợ hãi và tránh né khổ đau. Thực ra hai lý do này
chỉ là hai mặt của một vấn đề. Mong có được điều này, hạnh phúc chẳng hạn, cũng
hàm nghĩa là chúng ta sợ phải đối mặt với thực tế ngược lại với điều chúng ta
mong đợi là khổ đau. Sợ và muốn tránh né khổ đau cũng đồng nghĩa với việc chúng
ta đang mong một điều ngược lại là hạnh phúc. Nằm sâu trong tiềm thức, khi cầu
nguyện là lúc ta thể hiện tâm lý bất lực, không tự chủ và bất an khi cả đều
chúng ta mong đợi và sợ hãi đều nằm ngoài tầm tay của mình.
Sao lại cầu nguyện?
Cuộc sống vô thường này là bất toàn và vạn vật
luôn thay đổi không lường được ở mọi
phương diện, mọi mức độ đã tạo nên nỗi bất an, lo âu và căng thẳng thường trực
đối với mỗi người chúng ta. Những gì đến với bản thân mình và người thân yêu ngoài tầm kiểm soát và
can thiệp của bản thân, nên chúng ta bất lực trong đau khổ với những đổi thay
không theo ý muốn của mình. Để tự trấn an và mong ước những gì tốt đẹp nhất,
con người nghĩ đến sự có mặt thật sự của thế giới vô hình và chúng ta hướng về
để cầu xin che chở, được bảo an. Trong thế giới đó, chúng ta tin có một hay nhiều
đấng linh thiêng, có thể là Đức Phật, là Chúa, là Thượng đế, là thánh Allah. Những
đấng thần linh này luôn sẵn sàng che chở, đem điềm lành tới hay ít ra gia hộ
cho chúng ta thành tựu sở nguyện khi chúng ta thành tâm hướng về chư vị mà cầu.
Chúng ta tin là các vị sẽ ra tay can thiệp khi chúng ta cần và lên tiếng, miễn
là chúng ta có niềm tin sâu sắc nơi quý Ngài. Trong giới Phật tử Việt Nam, cầu
nguyện sự gia hộ của Bồ tát Quán Thế Âm là một trường hợp rất phổ biến, đến mức
rất nhiều Phật tử thờ Bồ tát Quán Thế Âm
và gọi là Phật mà không hề thờ tôn tượng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, một đức
Phật lịch sử mà họ tự nhận làm “Thầy” và
xem mình là “đệ tử”.
Vấn đề tiếp theo là tại sao khi bất an, người
ta lại hướng đến một thế lực bên ngoài để cầu nguyện? Người ta thường mong
ngóng, tìm cầu sự đoạn tận khổ đau từ bên ngoài vì hầu hết chúng ta lầm
tưởng các yếu tố đem lại khổ đau cho mình nằm ở bên ngoài. Do đó, mọi rắc rối,
phiền muộn khổ đau đều được giải quyết nhờ sự can thiệp của các đấng linh
thiêng mà họ tôn sùng, quy ngưỡng. Thậm chí, nhiều người “khoáng trắng” vận mạng
của mình cho các đấng thần linh. Với suy nghĩ hạnh phúc và khổ đau do người
khác đem lại, khi một việc gì đó xảy ra, ta thường quy trách nhiệm tại người
này, do kẻ kia, bị hoàn cảnh nọ…mà không hề nhận thấy trách nhiệm cá nhân của
mình. Trong khi đó, nhiều lần Đức Phật đã nhắc nhở “Tự mình làm điều ác/ Tự
mình làm nhiễm ô /Tự mình không làm ác / Tự mình làm thanh tịnh / Tịnh hay
không tịnh tự mình/ không ai thanh tịnh ai.
(Pháp cú, 165).
Cầu được ước thấy?
Chúng ta thấy rằng
khuynh hướng chủ đạo có tính bản năng của con người là cầu nguyện mỗi khi mình
cần điều gì đó trong cuộc sống hay khi mình lâm vào hoàn cảnh khó giải quyết.
Thực tế, hầu hết những người cầu nguyện không tự hỏi mình có nên hay không nên
làm việc này, họ cứ làm mà không hề thắc mắc. Việc này chúng ta có thể thấy rõ nét nhất vào những ngày đầu
năm mới trong dịp Tết cổ truyền ở Việt Nam.
Có một xu hướng có thể dễ dàng nhận ra là
chúng ta ít khi làm những điều được học và thường làm những điều mà chúng ta
không hề được học! Thông qua sự ảnh hưởng
mang tính xã hội, do “vô thức đám đông” mà con người có tâm lý hùa theo một cách
mù quáng không cần suy xét; Cầu nguyện là một ví dụ. Thật là một nghịch lý khi
từ bé, không ai dạy chúng ta cầu mong thế lực vô hình nào đó giải quyết vấn đề
rắc rối cho mình cả. Ấy thế mà khi lớn
lên, nhiều người trong chúng ta thường xuyên cầu nguyện! Con người ta chỉ cầu
nguyện và nghĩ đến việc cầu nguyện khi bản thân mình bất lực không thể tự xoay
xở để giải quyết được những vấn đề khó khăn trong cuộc sống mà mình vấp phải.
Khi những va đập bắt đầu có vẻ quá sức chịu đựng và những nguy cơ, rủi ro cứ rập
rình nằm ngoài khả năng giải quyết của con người, người ta mới thấy cần sự giúp
đỡ từ bên ngoài. Cầu nguyện là khẩn khoản
cầu xin những đấng có năng lực hơn để vị ấy can thiệp vào trong những rắc rối
mình đang gặp phải, hoặc ít ra cũng hướng dẫn cho mình cách giải quyết vấn đề
sáng suốt nhằm giúp mình vượt qua dễ dàng hơn. Khi vật chất, tri thức và trải
nghiệm mà chúng ta ra công tích góp không thể giúp để vượt qua những thử thách
của cuộc đời, chúng ta mới nghĩ đến một nguồn năng lực mới trong cuộc sống. Lúc
này, cầu nguyện thường xuất hiện như là một trong các nguồn lực đó. Thế là
chúng ta bắt đầu cầu nguyện.
Câu hỏi tiếp theo là liệu cầu nguyện, dù được
thực hiện với sự thành tâm đến từng tế bào, từng mạch máu, thì hiệu lực có cao
không? Thực tế là những sự kiện, biến cố trong cuộc sống của mỗi người cứ dập
dìu dắt nhau theo hình “sin” như trêu ngươi, như an ủi, như “thả thính” những
tia hy vọng cuối đường hầm với những vui buồn lẫn lộn, hạnh phúc và khổ đau đan
xen hoặc tiếp nối nhau không theo một quy luật nào cả. Vậy thì, phải chăng những
gì đến với mình là kết quả của sự cầu nguyện và các đấng có năng lực hơn người
đó đã đáp ứng lời cầu nguyện của mình? Thế thì những điều không như ý xảy ra với
chúng ta là do các đấng thần linh “bỏ sót” phận việc đáp ứng mong cầu của mình
hay sao? Nếu dùng lý trí để suy xét, ta
thấy vô lý và thiếu cơ sở khi tin rằng, mọi điều tốt đẹp đều do cầu nguyện mà
thành. Thế thì những lần khác cầu không toại nguyện thì sao?
Nếu “cầu được ước thấy”
thì ai muốn được hạnh phúc, đơn giản chỉ cầu nguyện các thế lực bên ngoài, cứ
“khoáng trắng” cho các đấng thần linh cao cả, việc gì phải khổ nhọc học tập và
nỗ lực làm việc để đạt được điều mình muốn? Ngược lại nếu cầu chẳng được, ước
chẳng thấy, thì hà cớ gì phải cầu nguyện cho mệt tâm nhọc tâm mà không có kết
quả?
Băn khoăn thắc mắc và nghi ngờ về
hiệu lực của cầu nguyện một hoặc nhiều đấng linh thiêng nào đó đủ bao dung và
kiên nhẫn theo suốt bước chân của chúng ta để cứu giúp là điều cần thiết của một
người học Phật đúng nghĩa!
Đá nổi dầu chìm?
Những vị thầy tâm linh chân chính
và gương mẫu có khuyên các Phật tử hướng đến một đức Phật, Bồ tát nào đó để cầu
nguyện nhờ gia hộ không ? Rõ ràng, đạo Phật không khuyên chúng ta nên cầu nguyện.
Thay vào đó, đạo Phật dạy cách thực tập để có thể xoay xở giải quyết vấn đề
thay vì hướng ngoại tìm cầu sự che chở và giúp đỡ. Thế nhưng, không thể chối
cãi một sự thật là sự cầu nguyện Đức Phật và chư vị Bồ tát gia hộ vẫn còn phổ
biến trong quần chúng Phật tử. Hiện tượng này có vẻ trái với triết lý “tự mình
làm ngọn đèn cho chính mình” (Trường bộ Kinh) trong nhà Phật. Triết lý Phật
giáo đề cao việc tự thân thực hành pháp để chuyển hoá chính mình để được thăng
hoa và hạnh phúc thay vì cầu xin chư Phật
hay chư Bồ tát “chuyển” phần may mắn, những
điều tốt đẹp và mang hạnh phúc đến cho mình.
Vào thời Đức Phật, thói quen cầu
nguyện của người Ấn Độ chẳng khác chúng ta bây giờ. Có một lần có một người Bà
la môn, đến hỏi Phật rằng, Ngài có thể làm cho một người sau khi chết được sanh
lên cõi thiện lành hay không. Đức Phật hỏi lại người Bà la môn rằng, giả như có
một người sống thì hay giết hại sinh mạng, ăn trộm ăn cắp, lừa đảo, nói dối,
nói láo, lừa gạt, nhận thức sai lầm và làm nhiều điều ác, khi chết đi, nhiều
người tụ tập lại để cầu cho người đó được sanh lên cõi thiện lành, vậy người đó
có được sanh lên cõi thiện lành nhờ được sự cầu nguyện hay không? Rõ ràng là không?
Đức Phật còn minh hoạ ý kinh này bằng một ví
dụ rất hình tượng và dễ nhớ. Nếu chúng ta thả một tảng đá xuống hồ nước, dù
chúng ta huy động nhiều người cùng đến cầu nguyện cho tảng đá nổi lên, nó vẫn
chìm. Cũng như vậy, người sống làm các việc ác, thân khẩu ý không thanh tịnh,
sau khi chết ắt sẽ không thể sanh lên cõi thiện lành được. Ngược lại, chúng ta
đem dầu đổ xuống nước và cầu cho dầu chìm, cầu suốt đời dầu cũng không thể
chìm. Cũng như vậy, người sống làm thiện, ba nghiệp thanh tịnh, sau khi chết sẽ
sanh lên cõi thiện lành, dù không cần cầu.
Trên tinh thần của cuộc đối thoại giữa Đức Phật và
người Bà la môn, cầu nguyện là trái với quy luật nhân quả. Chính vì vậy, với
người có nhận thức đúng đắn, cầu nguyện sự giúp đở của các đấng thần linh thường
được xếp vào dạng mê tín dị đoan. Thoát khổ bằng phương pháp cầu nguyện suông
chưa từng được Đức Phật xác lập. Ngài nêu rõ quan điểm của Ngài trên lập trường
nhân quả rằng, chúng ta tự quyết định hạnh phúc cũng như đau khổ của chính mình
trong cuộc sống này. Dài xa hơn, chính chúng ta, không ai khác, là người chọn
chốn đi về của mình sau khi giã từ cõi sống này thông qua những gì ta thể hiện
qua hành động, lời nói và suy nghĩ chứ không thể nhờ vào năng lực cầu nguyện.
Không có một thế lực nào, quyền uy nào có thể cầu nguyện cho đá nổi lên và dầu
chìm xuống đáy hồ cả. Nếu cầu được, ước
thấy thì giáo lý nhân quả, một giáo lý nên tảng nhất của đạo Phật, sẽ không có
chỗ đứng và như thế giáo lý đạo Phật
không nhất quán và đầy mâu thuẫn. Nói cách khác, nếu chấp nhận giáo lý nhân quả
thì không thể chấp nhận cầu nguyện suông trong đạo Phật. Như vậy, van xin thế lực
bên ngoài để gánh nặng khổ đau rơi rụng và trả lại cho ta tinh thần thanh thản,
an vui, hạnh phúc là điều hoang tưởng!.
Nguyện mà không cầu.
Đức Phật luôn dạy chúng ta trên con đường tu
tập, tự lực là chính. Điều nầy có nghĩa là ta phải tự lo lấy phận việc của
mình, chịu trách nhiệm vận mạng cùng những sướng khổ trong cuộc sống, chứ không
thể phó thác cho ai cả. Thiên về cầu nguyện là lãng quên khả năng giác ngộ của
mình, tự sa mạc hoá nguồn năng lượng tự lực của bản thân vốn có rất dồi dào
trong tâm.
Nguyện là mong ước, hoạch định lớn lao cần thục
hiện cho bản thân trong một giai đoạn nhất định của cuộc sống. Để “nguyện” được
thành tựu, không đơn giản “cầu” mà đặng, mà phải tự thân vận động một cách có
phương pháp và nghệ thuật. Điển hình về việc thực hiễn những mong ước một đời sống
của mình, hạnh phúc là những gì đức Phật dạy trong kinh Hạnh phúc, hay kinh Điềm
lành tối thắng, hay kinh Phước đức trong Tiểu bộ kinh rằng:
Bấy giờ, một vị chư Thiên đến hỏi Đức Phật, người và trời đều
mong được bình an, vậy làm thế nào để có được bình an. Đây là duyên khởi để Đức
Phật dạy 38 pháp hành cho những ai muốn có được hạnh phúc bình an. Đây là một bản
kinh cầu nguyện theo hướng tích cực và đúng pháp. Mong cầu được đời sống an lạc,
hạnh phúc thì chúng ta cần phải thực hiện các điều kiện cần thiết để có sự tiến
bộ thực sự trong đời sống gia đình, xã hội, kinh tế và đời sống tâm linh. Điều
này rất khoa học và thực tế, cụ thể rõ ràng, trong khả năng làm được của tất cả
chúng ta.
Thực hiện hành pháp nghiêm túc thì có “nguyện”
mà không có “cầu”, hay nói cách khác, đó là “tâm nguyện” chứ không phải “cầu
nguyện”. “Tâm nguyện” là phát hoạ ra, đồ đậm, và khắc sâu nhiều lần một ý muốn
sâu sắc trong tâm theo phương pháp tâm lý “tự kỹ ám thị” có ý thức. Đây là quá
trình tự tâm niệm, nhắc đi nhắc lại cần thực hiện (ước muốn) trong tâm và tự khích lệ bản thân. Nhờ đó, tâm ta tạo nên
một nguồn năng lượng để thực hiện điều mình mong muốn để biến ý tưởng thành hiện
thực. Nguyện mà không cầu là sự đánh dấu mốc để nỗ lực, để nhắc tâm, nên tự lực
vẫn mang tính chủ đạo, chứ không phải “bán cái” cho thế lực bên ngoài mà được.
Trong tinh thần này, những gì chúng ta “mong” thì hãy coi đó như là mục tiêu để
phấn đấu, là đích cần phải đạt đến để có phương cách thực hiện hiệu quả.
Chuyển cầu nguyện cho tự thân thành hành trì.
Phương pháp Phật dạy khoa học, là đi thẳng
vào sự thật và có khả năng chỉ ra kết quả rõ ràng, có thể kiểm chứng được,
trong mối tương quan biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả. Trong hệ thống
kinh luật, chúng ta không hề thấy có biểu hiện nào của sự cầu xin van vái mong
một đấng quyền năng có năng lực bí ẩn nào đó che chỡ hộ trì qua việc thực hành
các nghi lễ hình thức rườm rà như các tôn giáo thời bấy ấy. Theo lời Phật dạy,
một người muốn sống an ổn phải thực hành những điều thiện về thân, khẩu, ý mà
kinh Điềm lành tối thượng là điển hình được trưng dẫn.
Một cách cụ thể, để “tâm nguyện” được thành tựu
và có hiệu quả tốt nhất, sự hỗ trợ của thiền định là vô cùng cần thiết với người
sống theo lời Phật dạy. Thiền định là quá trình lắng trong nguồn tâm thức để tuệ
giác phát sinh, soi sáng và định hướng
trên mọi bước đi trong đời. Thiền định và tâm nguyện liên hệ với nhau, giống
như việc sạc pin. Thực hành thiền là nạp điện năng vào bình điện, còn chuyển
tâm niệm thành hiện thức là phát huy khả năng phát sáng của bình điện. Thiền định
là nuôi dưỡng, nung nấu một nguồn sức mạnh tâm linh để lấy đó làm chất liệu định
hướng và vận hành cuộc sống đến đích tốt đẹp và an lành. Ánh sáng mờ không đủ để
thực hiện chức năng soi sáng thì nên càng thiền định, nguyện của chúng ra mau
chóng thành hiện thực. Tâm không định tĩnh thì năng lực phát triển tâm nguyện sẽ
kém tác dụng.
Chuyển cầu nguyện cho tha nhân thành hồi hướng.
Mục đích
của việc cầu nguyện cho người khác, cả người thân lẫn không thân, là
mong ước những điều tốt lành nhất đến với họ và tránh xa những điều rủi ro, rắc
rối, và cao sâu hơn là cầu nguyện cho tất cả thành tựu đạo quả giác ngộ Bồ đề. Điều này thể hiện tình thương yêu rộng lớn của
mình đối với tha nhân. Thể hiện tình thương yêu đến người khác là một điều đáng
làm, đáng tán thán và khuyến khích. Thế nhưng, bằng cách thành tâm van vái, lạy
xin các thế lực bên ngoài để có được hạnh phúc, tránh đi đau khổ là cách làm
không phù hợp và không hiệu quả. Theo lời Phật dạy, cách thiết thực nhất để thể
hiện tâm từ bi của mình với tha nhân là trải tâm lành hướng đến tất cả theo
phương thức hồi hướng chia phước.
Hồi hướng công đức là một phương pháp thực
hành pháp chứ không phải đọc tụng suông “nguyện đem công đức này, hồi hướng cho
tất cả..” . Khi có nhu cầu gởi tâm niệm lành chuyên chở yêu thương đến người
khác, thay vì chúng ta chỉ biết cầu và cầu, chúng ta nên làm những việc lành và
hồi hướng công đức lành làm được đó đến đối tượng mà chúng ta hướng đến. Hiệu lực
của việc hồi hướng tuỳ vào mức độ và chất lượng việc lành của mình, tình thương
yêu không mang tính đổi chác so đo, mức độ an tịnh của tâm khi hồi hướng và phước
đức của người hồi hướng đến. Đức Phật đã
hướng dẫn rất nhiều người làm như vậy và việc làm này đã trở nên một truyền thống rất hay trong Phật giáo. Làm
lành là làm như thế nào? Việc làm cụ thê thì nhiều, nhưng chủ yêu là hai hoạt động
chính là giúp đỡ người khác và phát triển cộng đồng.
Có một câu chuyện về hồi hướng. Có lần vua Tần-bà-sa-la,
cúng dường thức ăn lên Đức Phật, nhưng không hồi hướng công đức cho các thần hồn.
Tối hôm đó, các thần hồn vào cung vua gây ồn quấy phá. Vua đem chuyện kể lại
cho Đức Phật nghe, Ngài khuyên vua cúng dường lại và nhớ hồi hướng công đức cho
các thần hồn. Vua làm theo và đúng như vậy, các thần hồn không còn vào cung quấy
phá nữa.
Cách thức hồi hướng (từ người thân đến người
oán), các đối tượng hồi hướng (tất cả chủng loại, các hình thức sống ở tất cả
môi trường với hình thù và kích thước khác nhau) được Đức Phật cụ thể hoá trong
bài kinh Từ bi- kinh tập- Tiều bộ kinh.
Đức Phật dạy bài kinh này cho nhóm 500 vị Tỳ kheo về cách rải tâm từ đến những
chư thiên từng quấy phá các Tỳ kheo đến mất ăn mất ngủ, bệnh tật và sợ hãi đến
mức không dám ở lại khu rừng ấy tu tập trong mùa an cư. Nhờ hồi hướng đúng
cách, chư thiên cảm nhận được tâm từ của các đệ tử Phật, họ hoan hỷ nên không
còn quấy phá các thầy nữa. Từ đó, các thầy Tỳ kheo sống yên ổn tu hành, tinh tấn
hành thiền và đều đắc quả sau mùa an cư năm đó. Trên cơ sở bài kinh này, về
sau, các nhà sư hướng dẫn tu thiền soạn thành một tài liệu chỉ dẫn thực hành
thiền rải tâm từ một cách có hệ thống và cụ thể dành cho những hành giả tu thiền.
Phương pháp hồi hướng công đức trong đạo Phật
rất đơn giản. Người làm việc lành, với tâm từ bi rộng mở, phát tâm và mong cầu
cho người khác (hoặc cho tất cả chúng sanh) cũng được hưởng phần công đức từ việc
làm lành mình vừa làm được. Hồi hướng công đức căn bản là hoạt động của tâm.
Tâm lành này có thể được diễn đạt thành lời hoặc chỉ khởi niệm
trong tâm, tuỳ người hồi hướng và ngữ cảnh. Sự thể hiện bên ngoài của hồi hướng
có tác dụng về mặt ngữ cảnh hơn là hiệu lực của chính việc cầu nguyện. Có sự chứng
kiến của người khác hay không, không thành vấn đề. Người được hồi hướng biết
hay không, điều đó không quan trọng lắm.
Điều quan trọng là năng lượng lành đó phải có nơi người thực hành, và
cái ý chí, lòng yêu thương, lòng ưu ái đó phải có, và tất cả những năng lượng
đó đã được gởi đi. Hay nói cách khác, người được hồi hướng thọ hưởng được phần
phước công đức hay không tuỳ thuộc vào hình thức (cách diễn đạt) mà tuỳ thuộc về
nội dung hồi hướng (tấm lòng). Tất nhiên, để thực hiện việc hồi hướng, hành động
thiện lành của thân là cần thiết. Như vậy, để hoàn thành một ‘chu trình’ hồi hướng,
người hồi hướng cần phải nỗ lực làm lành cả ba phương diện: ý hành, ngữ hành và
thân hành.
Thay lời kết.
Ngày nay, đạo đức con người có những dấu hiệu
của suy đồi do tâm tham chi phối và điều động nên không sống thuận theo những
nguyên tắc vận hành của luật nhân quả. Do đó, vì nội tâm không có chút tư lương
nào nên con người càng cảm thấy bất an và có khuynh hướng tìm đến một đấng
thiêng liêng nào đó để cầu nguyện ngày càng nhiều hơn. Người theo tôn giáo nào
thì biến giáo chủ của tôn giáo mình thành một vị thần có quyền năng ban ơn
giáng phước cho tín đồ đệ tử. Đức Phật của chúng ta, vô hình trung cũng thành một
vị thần trong cách nghĩ của những người không thấu hiểu giáo lý đạo Phật một
cách thấu đáo. Thật ra, Ngài nào có phải là một Đấng sáng tạo, có quyền thưởng
phạt? Ngài là một vị Đạo sư tuyệt vời chỉ ra con đường sáng cho quần sanh thoát
khỏi lối mê để không còn đau khổ nữa mà thôi.
Cầu nguyện tích cực và đúng pháp là đánh thức
khả năng thánh thiện trong con người của mình. Đó là sự nỗ lực, cần mẫn thực hiện
tâm nguyện của mình bằng cách đưa thân, khẩu, ý vào quỹ đạo sống thiện lành để
có kết quả an vui và hạnh phúc cho bản thân mà thiền định là một yếu tố hỗ trợ
hiệu quả nhất. Đó là sự chia sẻ năng lượng lành chúng ta tích tạo được đến người
khác trong tình yêu thương rộng lớn. Như vậy, trong đạo Phật không có cầu nguyện
van xin, mà chỉ có hành trì (cầu nguyện cho bản thân) và hồi hướng (cầu nguyện
cho tha nhân). Muốn toại nguyện trong cuộc sống, con người chắc chắn từ ngàn
xưa cho đến ngàn sau là chánh niệm tu tập trau sửa thân, khẩu, ý hướng về con
đường thiện lành mà Đức Phật đã vạch ra cách đây 26 thế kỹ. Cụ thể hoá lộ trình cầu nguyện đúng
pháp là thực hành Bát chánh đạo- Tám phương diện bao hàm tất cả hoạt động của
con người, là kim chỉ nam trên lộ trình tu tập mà Ngài khuyên nhắc lại nhiều lần
trong hầu hết các bài kinh, thậm chí nhiều lần trong cùng một bài kinh.
(Trích NSGN – số 252- 3/2017- Liên trí )
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét