BỐN ĐIỂM ĐẶC SẮC CỦA TÔNG TỊNH ĐỘ
1/Bản nguyện xưng danh
2/
Phàm phu nhập báo
3/ Bình sanh nghiệp thành
4/ Hiện sanh bất thối
Thế nào gọi là đặc sắc? tức là đặc biệt, chỉ
có pháp môn này mới có, các pháp khác không có. Học tập theo tông Tịnh Độ nếu
không nắm vững các điểm đặc sắc này, thì bạn tu tông Tịnh Độ, cũng giống như tu
các pháp môn khác, vì thế phải nắm điểm đặc sắc này rất trọng yếu.
1/ Bản nguyện xưng danh: Sao gọi xưng danh bản nguyện? Tức bất luận
công phu sâu hay cạn, trì giới thanh tịnh
hay không thanh tịnh, niệm Phật có nhất tâm hay không nhất tâm, tâm định hay
tâm tán loạn, có phát Bồ đề tâm hay không phát Bồ đề tâm, chỉ cần niệm Nam mô A
Di Đà Phật, thì chắc chắn vãng sanh do “Do bản nguyện” xưng danh mà thành.
Bản nguyện của Phật A Di Đà là muốn cứu độ mười
phương chúng sanh, đã bao quát trì giới, không trì giới, thiền hay không thiền,
định tâm hay tán tâm, không phân biệt chúng sanh nào. Vì thế xưng danh của tông
Tịnh Độ, là “bản nguyện xưng danh”, là chuyên xưng danh hiệu Phật A Di Đà, bất
luận công phu sâu hay cạn, tâm thanh tịnh hay không thanh tịnh, xuất gia hay tại
gia, không phân biệt thân phận nào, chỉ cần miệng xưng danh hiệu, là nương nhờ
nguyện lực của Phật thì chắc chắn được vãng sanh, đây là điểm đặc sắc của tông
Tịnh Độ. Ví như bước chân lên thuyền thì sẽ qua được bờ bên kia, là do sức của
con thuyền chứ không phải sức của mình.
2/ Phàm phu nhập thánh: Các tông phái khác chỉ tiếp nhận thượng căn
và trung căn. Thí như trì giới phải được thanh tịnh, tu thiền phải được kiến
tánh v.v.. tất cả việc này đâu phải dễ, các tông phái này lấy đối tượng thượng
căn và trung căn làm gốc, chẳng phải phàm phu làm gốc.
Đặc biệt “bản nguyện xưng danh” lấy phàm phu làm gốc, lấy hạ căn làm cơ bản.
Chúng ta nghiệp chướng sâu dày, trí tuệ cạn mỏng, tâm ý tán loạn, chỉ cần miệng
niệm Nam mô A Di Đà Phật là được rồi, vì thế mới nói là “phàm phu”. Người niệm
Phật từ thân phận phàm phu nhập vào cõi thánh độ, không phải trải qua tầng cấp
như các pháp khác… nên gọi là phàm phu nhập báo độ. Đó là điểm đặc sắc của “bản nguyện xưng danh” mà các pháp khác không
có. Ví dụ lên lầu 10 tầng đi bộ phải bước lên 10 bậc thang, còn đi thang máy chỉ
bước một bước thì lên tới đỉnh.
3/ Bình sanh nghiệp thành: Niệm Phật cầu vãng sanh không phải đợi đến
lúc lâm chung mới vãng sanh, mà hiện tại đã hoàn thành vãng sanh, gọi là hiện
tiền vãng sanh, còn gọi “bình sanh nghiệp thành”, nghĩa là còn đang sống mà đã
thành tựu vãng sanh. Tức niềm tin và sự hành trì cùng sự phát nguyện đã viên
mãn,(tín-nguyện-hạnh), tuy chưa chết mà vốn luyến đã đầy đủ, không đợi đến lúc
lâm chung. Đây gọi là nhân quả đồng thời, niệm Phật là nhân, vãng sanh là quả.
Lúc gần chết, biết trước giờ chết, thân không tật bệnh, tâm không tán loạn, ý không mê hoặc, chánh niệm phân
minh gọi là “lâm chung nghiệp thành”.
Vãng sanh có hai giai đoạn: Hiện tiền vãng sanh và lâm chung vãng sanh,
chứ không phải riêng có một loại vãng sanh.
4/ Hiện sanh bất thối: Điểm đặc biệt của tông Tịnh Độ là chúng ta ở
thế giới Ta bà này, đem thân phận phàm phu mà đắc quả bất thối, vì sao thế? Vì
như đã lên máy bay rồi không thể bước xuống. Danh hiệu Phật A Di Đà đã nhiếp thủ
chúng ta rồi, chỉ có tiến mà không có thối. Ngồi trên thuyền đại nguyện của Phật
A Di Đà, thì chỉ có tiến mà không có thối. Được ánh sáng của Phật A Di Đà nhiếp
thủ, chẳng rời bỏ, nên chúng ta bất thối.
Đây là Phật lực, chẳng phải dựa vào tự lực, nếu dựa vào tự lực chúng ta
dễ bị thối chuyển, dễ bị đoạ lạc.
Một khi chúng ta đến thế giới Cực lạc thì mau
thành Phật, không còn việc tu dần dần, từ từ thành Phật. Mau đầy đủ công đức, vì thế, pháp tu Tịnh độ
gọi là pháp “siêu việt” thường luân chư địa chi hạnh (tức vượt qua các hạnh
thông thường), nghĩa là các thứ lớp bình thường từ Sơ địa đến Nhị địa, Tam địa,
Tứ địa v.v.. Nhưng đến thế giới Cực lạc thì không phải trải qua thứ lớp như thế,
ví như lên lầu nhiều tầng, nếu đi bộ phải bước lên nhiều cấp, nhiều bậc mới lên
lầu trên, còn nếu đi thang máy chỉ cần một bước là lên đến lầu tận cùng. Đây gọi
là “siêu việt” vượt qua.
Pháp tu Tịnh độ là pháp môn dễ tu dễ thành,
không có điều kiện khắc khe, không có sự gò ép, nên ai tu cũng được, ít người
thối tâm, pháp môn tu dễ nhớ dễ hành. Tu các pháp khác lo sợ, dễ phạm khó hành,
sợ lỗi này phạm quy luật kia, tạo nên tâm lý bất an nên dễ thối. Tu pháp môn Tịnh
Độ không đặt nặng về giới thanh tịnh hay không thanh tịnh nên an tâm dễ tu. Nói
như vậy, không có nghĩa là bỏ giới không hành, người tu Tịnh độ không quan tâm
đến giới luật. Mà niệm Phật nhất tâm, thì tâm an tịnh, tâm vắng lặng, ba nghiệp
thân, khẩu, ý thanh tịnh đồng như đã giữ giới. Không lo giữ giới mà giới vẫn
thanh tịnh.
Nói tóm pháp môn Tịnh Độ có ba đặc điểm và
năm thù thắng:
Ba đặc điểm:
Dễ tu dễ thành - bất thối chuyển và đới nghiệp vãng sanh.
Năm thù thắng: Nhất thiết thời, nhất thiết xứ, nhất thiết
pháp, nhất thiết nghi, nhất thiết nhơn.
Nghĩa là tu bất cứ thời gian nào, không gian
nào, con người nào, đi ,đứng, nằm ngồi đều tu được, chỉ tu pháp môn Tịnh độ là
tu tất cả pháp đều có trong đó: Thiền, mật, trì giới v.v.. có đầy đủ./.
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét