BÙI KIẾN THÀNH NGƯỜI THAY ĐỔI THỜI ĐẠI
Sơ lược đôi nét lý lịch ông Bùi Kiến Thành.
Ông Bùi Kiến Thành sinh 1931 quê quán Duy
Xuyên- Quảng Nam. Ông cố Bùi Đại Lan quê quán Nghệ An, ông nội quê Quế Sơn làng
Trung Phước, ông ngoại quê Đại Lộc người gốc Duy Xuyên, lúc nhỏ ông ở với ngoại
lớn lên ông ở với nội, ông kêu nhà thơ Bùi Giáng bằng chú ruột.
Ông là người có ảnh hưởng rất lớn với nền
kinh tế Việt Nam Cộng Hoà và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ông đã du học
từ Pháp rồi đến Mỹ, ông thông thạo hai
ngôn ngữ Pháp và Mỹ. Lúc đầu ông học ở Pháp, ông mê ngành hàng không vũ trụ và
học được một năm, cha ông viết thư qua nói, chú mầy học ngành đó sau này không
giúp ích gì cho đất nước Việt Nam, vì thế ông qua Mỹ học ngành kinh tế tài
chánh xã hội. Mới đầu cha ông thân với ông Ngô Đình Thục gởi ông học bổng trường
dòng Thiên chúa giáo bên Mỹ, sau ông nghĩ học như vậy không có kết quả sau này,
ông bỏ trường dòng tìm học trường có các con em các nhà tỷ phú và con của các tổng thống cùng học, vì thế các bạn
học ông sau này đều là những người trong ghế nghị sĩ quốc hội, tổng thống
Obama, Bill Cliton là bạn của ông.
Đảng cộng sản Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam
muốn chiếm được chính quyền của bên đối phương chủ nghĩa Tư bản, để thiết lập
nên thể chế Chủ Nghĩa Cộng Sản họ phải dùng mọi cách bằng tuyên truyền, bằng
quân sự, bằng mọi cách mưu lược kiên trì chiến đấu lâu dài mới đem lại thành
công như ý. Nhưng trong khoảng thời gian đó tổn thất về nhân mạng, về của cải vật
chất, về khí tài, nhất là khủng hoảng về tinh thần trước và sau chiến tranh. Sự
tổn thất này sẽ có bài liệt kê về chiến tranh Việt Nam của Mỹ tham chiến sau. Đảng
cộng Sản Việt Nam tốn 30 năm mới giành được chính quyền Tư bản miền Nam Việt
Nam (1945-1975).
Tất cả dù là chủ nghĩa Tư sản hay chủ nghĩa
Chủ nghĩa Cộng sản đều thuộc về ý thức hệ mà thôi, bên nào cũng có cái hay và lợi
thế đối với con người của mỗi bên của mình. Nhưng với nhãn quan Phật giáo dù có
là chính nghĩa hay không chính nghĩa, hay đến đâu cũng đều nằm trong ngũ dục,
mà động cơ thúc đẩy bắt nguồn từ tham, sân, si mà ra.
Phật giáo đóng góp gì trong công việc đổi mới
đất nước?
Như trên đã nói ông Bùi Kiến Thành là một người
uyên thâm Phật học, ảnh hưởng gia phong nuôi dưỡng tinh thần yêu nước lợi dân của
ông ngoại, và ông cũng ngộ được tinh tuý của tinh thần kinh Kim Cang Bát Nhã
trong giai đoạn 15 tháng ngồi trong tù. Sau này với tinh thần ngộ hiểu giáo lý
“Sắc- Không” của kinh Bát Nhã mà ông trở thành người tạo nên những kỳ tích đưa
đất nước dân tộc ra khỏi cảnh đen tối đói nghèo lạc hậu.
Theo sự phỏng vấn của Yutube- Dương Quốc
Chính TV- 23/4/2025, hỏi về việc chuyển đổi từ nền kinh tế Chủ Nghĩa xã Hội
qua nền kinh tế Tư bản, hay nền kinh tế
Quốc doanh qua kinh tế Thị trường. Ông trả lời rằng: Mới đầu thủ tướng Võ Văn
Kiệt hỏi ông tư vấn giùm, bây giờ Trung Quốc họ bán cho Công ty dầu khí của Mỹ
khai thác dầu khí tại thềm lục địa biển đảo Việt Nam, có cách gì để công ty dầu
khí Mỹ dừng tiến hành được không?
Ông Bùi Kiến Thành trả lời: Việt Nam đang bị
Mỹ cấm vận không có cách gì mà can thiệp được, nếu được thì phải làm sao cho Mỹ
tháo dỡ cấm vận Việt Nam rồi mới có thể ăn nói được. Ông Võ Văn Kiệt hỏi, vậy bây giờ làm sao để Mỹ
tháo dỡ cấm vận Việt Nam? Ông Bùi Kiến
Thành nói, bây giờ phải tìm cái nhu cầu của Mỹ họ đang cần gì, tìm cái điểm yếu
của họ mình đáp ứng cho họ thì họ mới tháo dỡ cấm vận.
Ông Võ Văn Kiệt hỏi, như vậy theo ông Mỹ họ
đang có nhu cầu gì? Ông Thành trả lời hiện
nay nhân dân Mỹ cũng như quốc hội Mỹ cần tìm kiếm hài cốt quân nhân lính Mỹ mất
trích trong chiến tranh Việt Nam. Vậy ông viết một bức thư gởi bộ ngoại giao Mỹ,
nói Việt Nam sẽ tạo điều kiện nhân đạo tìm kiếm hài cốt quân nhân Mỹ trao trả về
nước thì may ra họ chấp nhận rồi mình có
cơ hội nhờ họ tháo dỡ cấm vận. Và ông Võ Văn Kiệt đánh bức thư trình bày việc
tìm kiếm hài cốt quân lính Mỹ trao trả về nước giao ông Thành qua Mỹ gặp bộ ngoại
giao Mỹ trình bày.
Ông Bùi Kiến Thành qua gặp bộ ngoại giao Mỹ
đưa bức thư của Việt Nam cho bộ ngoại giao Mỹ. Bộ ngoại giao tiếp nhận văn thư,
sau khi họ đọc và xem xét và họ trả lời đợi họ trình lên tổng thống. Bốn ngày
sau bộ ngoại giao trả lời là tổng thống Hoa Kỳ đồng ý cho Việt Nam phối hợp với
Mỹ tìm kiếm hài cốt. Và bộ ngoại giao hỏi ông Thành, Việt Nam giúp tìm kiếm hài
cốt quân nhân Mỹ, vậy Mỹ có thể giúp gì lại cho Việt Nam được không, ông Thành
trả lời là Việt Nam nhờ Mỹ tháo dỡ cấm vận Mỹ với Việt Nam, và sau đó được tổng
thống Bill Liton chấp thuận. Và Mỹ đã bãi bỏ lệnh cấm vận Việt Nam vào ngày
3/2/1994.
Mỹ cho Việt Nam ra khỏi lệnh cấm vận và Mỹ có
đề nghị với chính phủ Việt Nam hãy thả hết tù nhân chính trị trong thời kỳ trước
1975 của quân nhân miền Nam Việt Nam. Và
nhà nước Việt Nam chấp thuận thả tù nhân chính trị của chính phủ Cộng Hoà miền
Nam mà chính Phủ Cộng Hoà chủ Nghĩa xã hội đã giam giữ từ 1975 đến nay, (tổng cộng
có 1000.000 người bị giam giữ).
Ông Bùi Kiến Thành là người Việt Nam đầu tiền
học ngành Tài chính Ngân hàng ở Mỹ ở trường nổi tiếng có các con em các nhà tỷ
phú và con của các thượng nghị sĩ trong ghế quốc hội của Mỹ. Đó là cơ hội để
sau này ông tiếp xúc và trao đổi các vấn đề khúc mắc giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Học
sinh cùng học với ông thời đó sau này là tổng thống O Ba Ma và Bill Liton và
các dân biểu nghị sĩ khác trong quốc hội Mỹ. Ông có sự liên hệ thân thiết với
các vị này. Chính mối quan hệ bạn bè này mà sau này nhà nước Việt Nam cần tháo dỡ lệnh cấm vận, xây dựng quan hệ ngoại
giao Việt Nam với Mỹ, đều nhờ mối quan hệ của ông, các nghị sĩ hay dân biểu Mỹ
ông đều quen biết hết. Gặp bất kỳ quan chức cao cấp nào của Mỹ ông đều quan hệ
được một cách thân thiện, vì họ biết ông học cùng trường, đã có đẳng cấp. Những
thăng trầm đất nước ông đều có cơ duyên.
Khi học ở trường Colombia, ông gặp ông Ngô
Đình Diệm là người chí sĩ dẫn dường xây dựng đất nước sau chiến tranh Việt
–Pháp. Ông Diệm tá túc ở một tu viện tiểu bang… cả tuần không ai nói chuyện, cuối
tuần ông qua Newyouk ở bang ông Thành, chiều thứ bảy mỗi tuần, suốt hai năm, ông
trở thành người bạn cố tri. Sau đó ông Ngô Đình Diệm về nước làm thủ tướng
1954, gọi ông về giúp cho ông Diệm một tay. Ông Thành cùng mấy người bạn cùng về
giúp cho thủ tướng Ngô Đình Diệm lúc đó 4/1954 trở đi xây dựng nền Cộng Hoà Miền
Nam Việt Nam, ông tham gia vào ngành Ngân hàng tài chánh.
Ông thân quen với vị đại sứ Việt Nam ở Pháp,
ông là người không có tư tưởng chống cộng nên các cán bộ nhà nước Việt Nam
không e ngại khi gặp ông, ông đúng là
người Phật tử chân chính không bị sự thương ghét để lòng, đó là cơ duyên ông tiếp
xúc và trao đổi thân tình những điều góp ý sửa đổi nền kinh tế quốc doanh qua
kinh tế thị trường.
Đầu năm 1980 ông Phạm Hùng gửi phái đoàn qua
Pháp tại Paris gặp ông Bùi Kiến Thành, báo cáo tình hình kinh tế Việt Nam đi
vào ngõ cụt, dân nghèo thì nước phải yếu, ông có ý kiến gì giúp cho kinh tế Việt
Nam vươn lên không? Lãnh đạo Việt Nam chủ chốt là ông Phạm Hùng là chủ tịch Hội
đồng bộ trưởng.
Ông Bùi Kiến Thành nói với phái đoàn rằng: Chế
độ kinh tế tập trung có nhiều bất cập không thể phát triển được, kinh tế tập
trung phân phối theo bao cấp, còn thêm chính sách chuyên chế vô sản nữa, dẫn đến
dân nghèo đó là nguyên nhân đưa đến thất bại. Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây
chưa có một đất nước nào mạnh trên đám dân nghèo cả, vì vậy dân nghèo làm sao
nước mạnh được, chính sách bần cùng hoá dân làm sao phát triển được.
Kinh tế bao cấp tập trung, người dân phải mua
bằng tem phiếu, mỗi tháng mua đồ chỉ được một lần mà phải sắp hàng, nó vừa tốn
thời gian công sức mà chẳng mua được gì nhiều.
Mỗi tháng đem sổ mua đến cửa hàng, nhận số rồi sắp hàng mua được hai lít
dầu lửa, hai lạng vị tinh phải tốn thời gian một buổi. Mỗi năm mỗi người mua được
2 mét vải, một lớp xe đạp, cách mua bán quá tốn thời gian và hạn chế mặt hàng đời
sống nhân dân thiếu thốn khổ cùng cực. Cuộc sống nhân dân Việt Nam sau ngày giải
phóng 1975 trong giai đoạn bao cấp (1975- 1995) 20 năm bao cấp không khác gì đời
sống dân Châu Phi vậy.
Đất đai từ ruộng vườn, trâu, bò của dân đều
sung công vào nhà nước, rồi làm thuê lại
cho Hợp tác xã, mỗi ngày trả công được hai lạng lúa làm sao sống nỗi? nuôi con heo, con gà cũng phải bán cho Hợp
tác xã, không được bán ra ngoài, nhưng bán ra ngoài được 10 đồng còn bán vào hợp
tác xã trả được ba đồng, như vậy làm sao kinh tế người dân phát triển được. Nếu
ai trái lệnh thì bị kiểm điểm và đi tù vì không thông chính sách.
Nền kinh tế quốc doanh, bắt người thợ may đi
đóng giày, bắt người thợ giày đi may đồ. Kết quả ra sản phẩm, giày không ai
mang được, áo quần không ai mặc được, vậy bán cho ai, vì thế kinh tế không thể
nào phát triển được. Hơn nữa có làm ra sản phẩm không bán được cho ai, vì Mỹ cấm
vận Việt Nam không thể giao thương với bất cứ nước nào được. Bên trong bế tắc
bên ngoài không thông kinh tế đưa đến ngõ cụt là phải.
Muốn dân giàu nước mạnh phải tạo cho người
dân tự do làm kinh tế, phải tạo cho tất cả nhân dân tham gia làm kinh tế để xây
dựng đất nước thì lúc đó mới có giải pháp.
Phái đoàn nghe ông Bùi Kiến Thành trình bày như vậy, các người trong
phái đoàn nói khó quá, tôi về nói lại chắc không được: Ông nói chúng tôi hiểu,
nhưng về không dám trình bày lại những điều ông nói, không khéo chúng tôi bị
khai trừ ra khỏi đảng. Vì kẻ giàu, Tư sản
và kinh tế thị trường là kẻ thù không đội trời chung với Cộng sản.
Ông Bùi Kiến Thành nghe vậy bèn nói, thôi được
để tôi viết thư các anh đem về trình bày cho ban lãnh đạo xem, nếu đồng ý thì
ok còn không thì thôi, nếu được thì qua
đây tôi sẽ giúp cho. Và bốn tháng sau phái đoàn của Việt Nam qua gặp ông Bùi Kiến
Thành báo cáo là lãnh đạo Việt Nam thống nhất ý kiến của ông Thành là “Dân giàu
nước mới mạnh”, chuyển đổi nền kinh tế tập
trung quốc doanh sang nền kinh tế thị trường. Và từ đó ông Bùi KiếnThành thường
xuyên trao đổi qua lại, dẫn đến Nghị quyết Trung ương hội nghị 6, từ việc xây dựng
từ ngữ nghị quyết trung ương đảng hội nghị 6. Việt Nam là nền kinh tế nhiều
thành phần không còn thành phần quốc doanh nữa. Chữ “nhiều” là từ cách mạng,
khôi phục lại nền kinh tế cho cả một dân tộc. Chữ nhiều là vận hành theo cơ chế
thị trường, không còn vận hành theo cơ chế bao cấp nữa, không còn mua hàng bằng
tem phiếu nữa. Thị trường là gì? Là nền kinh tế Tư bản, có người bán có người
mua, chứ không phân phối nữa.
Người dân Việt Nam được quyền làm kinh tế trở
lại vận hành theo kinh tế thị trường, là quan hệ giao thương với tất cả nền
kinh tế thế giới. Từ đó có từ “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”. Xã hội chủ nghĩa không còn độc tôn nữa. Theo lý thuyết của Lênin là phải
chuyên chế vô sản, độc tài để cai trị, những chuyện đó không còn là lý thuyết thích hợp nữa. Nghị quyết 6 là
khởi điểm cho việc đổi mới vào năm 1986.
Việc làm của ông Bùi Kiến Thành giúp cải tiến
tư tưởng Cộng sản và ra khỏi các từ ngữ, làm thế nào thông qua được đại hội đảng,
là một cuộc cách mạnh vĩ đại không tốn một viên đạn, không đỗ một giọt máu,
không đấu tranh, xao xác với nhau, đưa đến bình yên. Từ việc chuyển đổi nền
kinh tế quốc doanh qua kinh tế thị trường, cho đến yêu cầu Mỹ tháo dỡ lệnh cấm
vận, việc đó các nhân vật lãnh đạo trong bộ máy nhà nước Cộng sản Việt Nam
không thể làm được nếu không có ông Bùi Kiến Thành, chắc Việt Nam chúng ta cùng
số phận với nước Cu Ba đến bây giờ cũng còn bị Mỹ cấm vận, dân chúng khổ cùng cực.
Đến ngày hôm nay Cu Ba bị Mỹ vẫn còn cấm vận đã trên 60 năm, khiến cho đất nước
Cu Ba dân chúng khổ cùng cực, thiếu thốn mọi bề, thậm chí bánh mì phải sắp hàng
mua, mỗi người chỉ được một cái.
Ông Bùi Kiến Thành từng bước tháo dỡ những
khó khăn cho đất nước, phải thương lượng từng bước để giải toả cấm vận, từng bước
xây dựng ngoại giao với Mỹ, rồi mới quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới,
tập tiếp cận với xã hội dân chủ văn minh. Phải trải qua thời gian đào tạo nhân
sự cán bộ một thời gian mới thực hiện được. Phải thay đổi nhận thức, từ đen qua
trắng, phải có thời gian chứ không thể một sớm một chiều.
Nền tảng phát triển kinh tế Việt Nam là dựa
trên Nghị Quyết 6. Việc làm của ông Thành là đào tạo, huấn luyện các cán bộ gởi
qua làm việc, tuyền đạt những ý tưởng kinh tế thị trường về để
cho lãnh đạo ra văn bản cần thiết để thông qua. Kinh tế bắt đầu khởi sắc từ năm
1993 trở về sau.
Mỹ bỏ lệnh cấm vận với Việt Nam vào ngày
3/2/1994, tổng Thống Bill Clinton công bố quyết định này, đánh dấu khởi đầu cho
việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa hai nước sau 19 năm cấm vận bắt đầu
từ năm 1995.
Việt Nam chính thức trở thành, thành viên thứ
150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO) từ ngày 11/01/2007, sự kiện lớn này đã để lại nhiều dấu
ấn tích cực trên hành trình đổi mới hội nhập quốc tế của Việt Nam. Ngày 07/11/2006
tại trụ sở WTO ông Eirik Glenne đã gõ búa chính thức xác nhận Việt Nam là thành
viên của hội đồng thương mại thế giới.
WTO là một tổ chức quốc tế, đặt trụ sở tại
Thuỵ Sĩ và có tên đầy đủ là tổ chức thương mại thế giới (Word Trade-
Organiztion), tổ chức thành lập và hoạt động từ năm 1/1/1995. Với mục tiêu thiết
lập và duy trì một nền thương mại hoàn toàn tự do, thuận lợi minh bạch. Trải
qua 4 phiên họp 7/1998 – 12/ 1998 - /1999 và 11/2000.Tổng cộng có 14 phiên hộp
đa phương từ 7/1998 đến 10/ 2006. Bộ trưởng thương mại Việt Nam Trương Đình Tiễn
và thống đốc thương mại WTO ông Pascal-
Lamy đã ký vào nghị định thư gia nhập của Việt Nam. Kết thúc 11 năm tiến hành
hàng loạt các cuộc đám phán song phương, đa phương và tham vấn từ khi đệ đơn
gia nhập vào năm 1995.
Việt Nam 20 năm kinh tế tập trung quốc doanh,
10 năm đổi mới từng bước tháo gỡ khó khăn từ bên trong ra bên ngoài, thay đổi
nhận thức, thay đổi tư tưởng, tiếp cận văn minh thế giới. Người cán bộ Cộng sản
Việt Nam lần lần thấm nhuần văn hoá tư bản, sống theo cách sống tư bản, từ đó sự
kỳ thị giữa tư tưởng tư bản lần được nhẹ đi. Kinh tế phát triển, vấn đề kỳ thị
tôn giáo cũng từng bước được nhẹ hơn và phát triển đồng hành với nền kinh tế thị
trường và hội nhập với quốc tế.
Chúng ta nhìn lại lịch sử Phật giáo Việt Nam
từ xưa đến nay, giới xuất gia và Phật tử tại gia đã và đang đóng góp cho nước
nhà về cả hai mặt kinh tế vật chất và tinh thần. Phải nói ông Bùi Kiến Thành là
một Phật tử có trí tuệ có đạo hạnh làm nên kỳ tích, thay đổi một hệ tư tưởng mà
không tốn thời gian và xương máu, như Cộng sản và Tư bản hai bên tranh thắng
tranh bại, cuối cùng thắng hay bại đều để lại vết thương lòng sau khi chiến
tranh kết thúc.
Ông Bùi Kiến Thành đã thẩm thấu tinh thần
kinh Bát nhã: “ Sắc tức thị kkông, Không tức thị Sắc” “ vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng”,
“vô quái ngại vô quái ngại” “Thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thì vô đẳng đẳng
chú” đã thấm sâu vào cuộc sống con người ông, nên mới tạo được những kỳ tích vô
tiền khoán hậu như thế/.
(Tham khảo từ: Youtube Dương Quốc Chính TV-
23/4/2025)
0 nhận xét:
Đăng nhận xét