NIẾT BÀN LÀ GÌ?
I.
KHÁI NIỆM
NIẾT BÀN:
Niết Bàn, trong Phật giáo, là trạng thái
tối thượng của sự giải thoát và an lạc vĩnh cửu. Đây là một khái niệm mang ý
nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho việc vượt qua mọi đau khổ, chấm dứt vòng luân hồi
sinh tử và đạt được sự thanh tịnh tuyệt đối.
Khái niệm Niết-Bàn không
phải là sản phẩm bắt nguồn từ Phật Giáo, mà nó đã xuất hiện từ
thời cổ đại Ấn Độ khoảng hơn 4,000 năm trước Tây Lịch. Trong
Luận Triết Học Upanishads là bộ kinh cuối cùng của
nền văn học Vệ-Đà, được dịch là Áo Nghĩa Thư, đã sử
dụng khái niệm Niết-Bàn để chỉ trạng thái hòa nhập của linh
hồn cá nhân gọi là “Atman” vào với linh hồn vũ
trụ là “Brahman” . Kinh Vệ-Đà cho rằng con
người có linh hồn. Khái niệm linh hồn này gọi
là tiểu ngã, là atman. Thời đó, người ta tin có đấng Brahman là một
đấng thần linh giống như Thượng đế, Hóa công hay Tạo
hóa = God of Creation, Creator, có quyền năng tạo ra vũ
trụ và muôn loài. Trong ý nghĩa này Niết-Bàn được đồng nhất
với đại ngã Brahman.
Sau này, trong giáo
lý Phật đà, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng sử dụng danh
từ Niết-Bàn, nhưng mang nội dung khác biệt so với khái niệm về Niết-Bàn
trong Áo Nghĩa Thư. Khái niệm Niết-Bàn trong Phật Giáo được xem
như là một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng Ấn
Độ, đem lại niềm tin tưởng mới, sắc diện mới, cùng sức sống mới
cho con người theo lối sống Phật Giáo. Thế nào là sức sống mới,
là sắc diện mới? Chúng ta thử cùng nhau tìm hiểu vấn
đề này qua chủ đề “Tìm Hiểu Ý Nghĩa ‘Niết-Bàn’
trong Đạo Phật ” như thế nào?
II. NIẾT BÀN LÀ
GÌ?
Niết-bàn là chữ phát
âm từ nguyên gốc tiếng Sanskrit là Nirvana, tiếng Pãli là Nibhana.
- Nir (Niết) nghĩa là “ra
khỏi”; vana (bàn) nghĩa là “rừng”. Nirvana nghĩa là ra khỏi khu rừng u mê,
tăm tối, phiền não.
Trong kinh
điển Phật Giáo có nhiều từ ngữ ám chỉ Niết-bàn
như: Chân như, viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), viên
giác, vô vi, vô sanh, chấm dứt sanh tử, bất
tử, cứu cánh, tuyệt đối an tịnh, giải thoát, (qua) bờ
bên kia, không còn trở thành, không thuộc duyên khởi, ngọn
lửa hoàn toàn bị dập tắt, đoạn tận toàn bộ tham
ái v.v… Những ý nghĩa này nhằm chỉ trạng thái tâm
thể hoàn toàn vắng lặng, dứt triệt vô minh phiền não của
người đạt đạo.
Dùng từ ngữ quy
ước của thế gian để giải thích hay định nghĩa về
một chân lý siêu việt chỉ có thể tạm giải thích ở mức
độ tương đối, bởi “thái độ sống” của người đạt đạo, hay “trạng
thái tinh thần” của người giác ngộ chỉ có bản
thân người đó biết mà thôi, và trạng thái đó thực
chất tự nó không có tên gọi, nó là nó, là như vậy, người ta tạm đặt cho nó
một cái tên gọi là Niết-bàn. Niết-bàn phải thông qua trí huệ bát nhã.
Niết-bàn và trí huệ bát nhã là hai mặt của một đồng
tiền. Niết-bàn là trạng thái tinh thần của một người đã đạt
trí huệ vô sư, và ngược lại bát nhã là trí
huệ của người đã chứng đắc Niết-bàn. Người chứng
đắc Niết-bàn được xem là một vị toàn giác.
Mặc dù, Niết-bàn
là mục tiêu tu hành nhằm đạt cứu cánh của mọi trường
phái Phật Giáo. Nhưng Niết-bàn không phải là kết quả của bất kỳ cái gì.
Nếu nó là kết quả thì phải có nhân tạo ra nó. Và nếu như thế, thì
Niết-bàn thuộc về pháp duyên khởi, pháp hữu vi. Những gì thuộc
về duyên khởi, hữu vi, vô thường, thuộc pháp thế
gian thì chịu luân hồi sinh tử, không đúng với ý
nghĩa của Niết-bàn là vô vi, vô sanh, thường hằng, bất
tử, vượt ra ngoài hiện tượng thế gian. Với ngôn ngữ thế
gian, tạm giảng nghĩa Niết-bàn là trạng thái tâm
thức đã thanh lọc hết mọi phiền não, giải thoát tất cả mọi
khổ đau, tận diệt hoàn toàn mọi tham ái, không còn sân
hận và vô minh. Trạng thái an tịnh tuyệt đối này
không còn bị bốn tướng: sanh, già, bệnh, chết chi phối, thoát
khỏi luân hồi sinh tử trong ba đường sáu cõi. Trạng
thái này có thể đạt được khi con người còn đang
sống, thuật ngữ gọi là Hữu Dư Niết-bàn hay Hữu
Dư Y Niết-bàn, hoặc khi con người đã chết gọi là Vô
Dư Niết-bàn hay Vô Dư Y Niết-bàn.
III. CÓ BAO
NHIÊU LOẠI NIẾT-BÀN?
Bản thể tuyệt
đối của Niết-bàn là bốn đặc
tính “Thường-Lạc-Ngã-Tịnh”, trái ngược với đặc
tính của hiện tượng thế gian là “Vô thường-Khổ-Vô
ngã-Bất tịnh”. Do trình độ giác ngộ mỗi người mỗi khác,
nên trong kinh chia ra bốn loại Niết-bàn. Đó là: Hữu Dư
Niết-bàn, Vô Dư Niết-bàn, Tự tánh Niết-bàn và Vô trụ
xứ Niết-bàn.
1. Hữu Dư
Niết-bàn: Là trạng thái tâm của các bậc thánh
nhân đã dứt sạch phiền não, đoạn tận tham sân si, không
còn tái sinh trong ba cõi… Nhưng vì còn sống trên thế gian, còn
thân của nghiệp báo dư thừa, nên vẫn phải chấp nhận khổ do
chịu nghiệp cũ để lại, gọi là “hữu dư y”. Vì dụ như Đức Phật bị
Đề-Bà- Đạt-Ma lăn đá làm chảy máu ngón chân của Ngài, như tôn
giả Mục-Kiền-Liên là thánh đệ tử thần thông đệ nhất
của Đức Phật bị người ngoại đạo đánh chết, như tôn
giả Angulimala dù đã đắc quả A-La-Hán vẫn phải chịu quả
báo bị người ta chọi đá bị thương nặng vì nghiệp sát của ông
trước khi xuất gia. Như vậy hành giả dù chứng đắc Hữu
Dư Y Niết-bàn chỉ thoát được cái khổ cái đau về thân một cách tạm thời
khi an trú sâu trong thiền định.
2. Vô
Dư Niết-bàn: Vị A-La-Hán đã dứt sạch phiền não hữu lậu, tận
diệt gốc rễ của ba nghiệp bất thiện tham sân si, xa
lìa tất cả si mê, đạt sự tĩnh lặng, chứng Niết-bàn khi còn sống. Sau
khi thân hoại mạng chung không còn mang thân nghiệp báo sẽ
không còn tái sinh, nhập Vô Dư Niết-bàn. Loại Niết-bàn này trong
kinh còn gọi là Bát-Niết-bàn (parinirvãna).
3. Tự
tánh Niết-bàn: Mỗi người chúng ta đều có sẵn thể
tánh thanh tịnh sáng suốt tròn đầy, chỉ vì vô
minh phiền não che lấp nên tánh sáng không hiển lộ.
Khi mê lầm chấp ngã biến mất thì đó là Niết-bàn. Cho nên mới nói
Niết-bàn vốn sẵn có, nó không phải là kết quả của tu tập mới có.
Nhưng nếu con người không nhận ra tự tánh của mình thì
không bao giờ biết được hương vị của Niết-bàn là như thế nào.
4. Vô trụ xứ
Niết-bàn: Quan niệm mở rộng của Niết-bàn dựa
trên khái niệm Bồ-tát [bodhisattva (Skt) hay bodhisatta (P)]. Vô trụ
xứ Niết-bàn là quan niệm Bồ-tát chứng đắc Niết-bàn
không trụ vào một nơi, một chốn nào. Khi giác ngộ các Ngài phát
nguyện dấn thân vào lục đạo giáo hóa chúng sanh, lấy sanh
tử phiền não của chúng sanh làm cảnh giới sống
của mình. Các Ngài lao vào biển khổ để cứu khổ mà tâm các Ngài vẫn
triệt an tự tại, với phát nguyện rộng lớn: “Bất trụ
Niết-bàn, đời đời thừa hành Bồ tát đạo”. Tuy ra vào sanh
tử nhưng lúc nào các Ngài cũng tự tại vô ngại như đoạn
văn diễn tả trong bài Bát Nhã Tâm Kinh: “Dĩ vô sở
đắc cố, Bồ-đề-tát-đỏa y Bát nhã ba-la-mật-đa cố, tâm
vô quái ngại, vô quái ngại, cố vô hữu khủng bố, viễn
ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn…”. Ở
đây các vị Bồ-tát đã đạt được cứu cánh Niết-bàn, nên tự
tại, thong dong ra vào chỗ điên đảo mê muội giáo
hóa chúng sanh không gặp trở ngại.
Tóm lại, Hữu Dư Niết
bàn và Vô Dư Niết Bàn theo quan niệm của hệ
thống Nam truyền, Theravàda. Còn Tự tánh Niết-bàn và Vô trụ
xứ Niết-bàn là theo quan niệm của hệ thống Phát triển
Bắc truyền.
IV. LÀM SAO ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC NIẾT-BÀN?
Chúng ta đã biết Niết-bàn có thể chứng nghiệm được
ngay trong xác thân khi chúng ta còn sống trong thế giới hiện
tại này. Nhưng tại sao chúng ta không nhận ra nó? Đó
là do hằng ngày, lúc nào chúng ta cũng khởi tâm điên đảo, tham
ái, phân biệt, chấp trước, chấp ngã, tham sân si, phiền
não… Những thứ này đã cắt đứt cội nguồn thanh thản, an vui, giải
thoát là Niết-bàn.
Con người bấy lâu nay đã huân tập không biết
bao nhiêu là khổ ưu, phiền não. Tâm phàm phu hoạt động mạnh
mẽ che lấp phần tâm linh vắng lặng bình yên vốn có sẵn
trong mỗi con người chúng ta. Đối với giáo lý nhà Phật
thì con người có thể giải thoát khỏi những khổ
đau, sinh tử luân hồi bằng các nỗ lực tự thân tu tập.
- Trước hết phải nên làm những việc lành, tránh hành xử
hung ác, và tự thanh tịnh hóa tâm ý của mình như lời Phật dạy trong Kinh
Pháp Cú, Phẩm Phật Đà: “Không làm mọi điều ác. Thành tựu các hạnh
lành. Tâm ý giữ trong sạch. Chính lời chư Phật dạy”.
- Học, hiểu rõ và thực hành bốn chân
lý nền tảng của Phật giáo. Đó là bài học “Tứ Diệu Đế”. Đức Phật dạy
rằng tất cả chúng sanh sinh ra ở cõi đời này không ai là không khổ. Con
người dù giàu hay nghèo đều không thoát khỏi khổ do sinh, già, bệnh,
chết chi phối. Không được sống gần gũi với người mình yêu thích, ngược lại
phải sống chung hay bị bắt buộc gặp mặt những người mình oán hận không
ưa nên khổ. Có ai không hề bị những ưu sầu khổ não trong tâm dày
vò? Và vì chấp thủ năm uẩn nên thân-tâm của con người phải
chịu khổ dài dài. Cho nên khổ là sự thật thứ nhất gọi là “Khổ đế”.
Các khổ này không phải tự dưng có. Khổ do một hay nhiều nguyên
nhân gây ra. Đó là sự thật thứ hai gọi là “Tập đế”. Tất cả những hiện
tượng trên thế gian không thực chất tính nên
nó vô thường. Với đặc tính này nên khổ hay nguyên
nhân của khổ có thể đoạn trừ . Đây là là sự thật thứ ba gọi là
“Diệt đế”. Để đạt được cứu cánh thoát khổ Đức Phật dạy
8 phương cách, trong kinh gọi là Bát Chánh Đạo. Đây là sự thật thứ
tư gọi là “Đạo đế”. Tám phương cách hay Bát Chánh Đạo của Đạo
đế là:
1) Chánh kiến: Chánh là ngay thẳng đúng đắn, kiến
là trông thấy hiểu biết . Chánh kiến là sự nhận thức sáng
suốt mọi vấn đề hợp với đạo đức gia đình xã hội. Ở
đây, chánh kiến là cái nhìn thấu đáo nhận ra đời sống của
người tu tập là phải lìa xa những việc xấu ác hại người, luôn thực
hành những điều thiện lành có lợi cho mình và cho người. Nhận
ra bốn chân lý mà Đức Phật đã giảng dạy thành
công cho các vị đệ tử, đó là “Tứ Diệu Đế”.
2) Chánh tư duy: Là suy nghĩ chân chánh,
hợp với lẽ phải, hiểu rõ thuyết nhân quả, hiểu
rõ nỗi khổ nào cũng có nguyên nhân. Thông suốt ý
nghĩa “Tứ Diệu Đế”.
3) Chánh ngữ: Lời nói chân thật không
gian dối, công bình, có ích lợi cho việc tu thân tích
đức. Lời nói nhẹ nhàng không hung dữ gây tổn thương người
khác.
4) Chánh Nghiệp: Những hành động có tác
ý hằng ngày cần phải sáng suốt, từ bi, không hại người, hại
vật, hại môi trường. Giữ ba nghiệp thân khẩu ý luôn được trong
sạch.
5) Chánh mạng: Nuôi thân mạng mình bằng
nghề nghiệp chân chánh. Không hành nghề đồ tể giết thú vật,
không bán chất say nghiện, không hành nghề chế tạo vũ khí giết người,
không buôn bán hàng lậu, quốc cấm v.v… Giữ gìn thân thể khỏe mạnh
bằng cách ăn uống điều độ, tránh xử dụng những chất kích
thích gây ghiền nghiện có hại cho sức khỏe. Tránh ăn những
món liên hệ đến nghiệp sát sinh. Ngủ nghỉ đầy đủ giúp tinh
thần được an ổn khỏe khoắn v.v…
6) Chánh tinh tấn: Siêng năng, chuyên cần một
cách chân chính thẳng tiến đến mục đích và lý tưởng mà
Phật đã dạy. Hăng say làm việc chánh đáng tốt lành mang lợi
ích cho người và cho mình. Tránh làm những điều xấu ác lợi mình, hại người.
7) Chánh niệm: Nhớ, nghĩ, biết chân chánh. Ở
đây chánh niệm có nghĩa là cái “biết chân chánh”. Biết chân chánh là
“biết không lời nói thầm trong não” tức là cái biết không có sự chen
vào của Ý Căn, Ý Thức hay Trí năng (tâm ba thời)…
mà là sự nhận biết trong sáng của tánh giác. Đó là cái biết
“đang là” khi giác quan tiếp xúc đối tượng. Cho
nên chánh niệm có thể hiểu là “cái biết ngay bây giờ và ở đây”.
8) Chánh định: Tu tập thiền định. Thực tập từng bước
một. Ban đầu tập thiền chỉ (Samatha) còn có chú
tâm chú ý một đối tượng để gom tâm về một mối. Bước thứ hai là “thầm nhận
biết đối tượng”, tức chủ đề thực tập. Bước thứ ba là “chánh niệm tỉnh
thức”, biết tất cả những gì xảy ra trên thân tâm và môi trường bên
ngòai nhưng không dính mắc (ly hỷ trú xả). Bước thứ tư tâm hoàn
toàn yên lặng, ngôn hành (tầm tứ) yên lặng, ý hành (thọ tưởng)
yên lặng, thân hành (tịnh tức) yên lặng. Chánh định là thực
tập thiền định theo đúng chánh pháp, tuần tự trải
qua bốn tầng định. Tầng định cao nhất là “Định bất động” tương
ưng với Chân Như định, hay Vô trụ định. Bấy giờ trí
huệ bát nhã phát huy.
Giáo lý đưa đến việc thực hành “Bát Chánh
Đạo” này được quy thành ba môn học: Giới, Định, Huệ. Thực
hành Giới và Định đưa tới trí huệ là giải
thoát khỏi sự vô minh mê muội, dẹp được khổ đau vì ích kỹ đạt
tới cảnh giới Niết-bàn. Giới ở đây là Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh
Mạng, Định là Chánh niệm, Chánh định, Huệ là Chánh kiến, Chánh
tư duy. Chánh tinh tấn thì có mặt trong tất cả Giới, Định, Huệ.
V. RÚT LẠI
Niết-bàn không phải là một nơi chốn, không phải là cảnh
giới trong không gian hay thực tế ngoài đời. Niết-bàn
không ở trên trời, không ở trong mây, trong trăng, trong sao. Niết-bàn
không ở trên cành cây, ngọn cỏ, hoa lá. Niết-bàn không ở dưới lòng đất hay trên
sông hoặc ngoài biển lớn. Niết-bàn không ở đâu cả. Nếu vậy, chẳng lẽ Niết-bàn
là hư vô là không thực có? Không phải thế! Niết-bàn có thật mà không ở
đâu cả, nó chỉ được nhận ra qua tâm của người giác ngộ. Tạm ghi
lại một vài điều do các bậc Thầy Tổ kinh nghiệm cho biết thì:
- Về mặt siêu hình, Niết-bàn là sự giải thoát mọi khổ
đau. - Về mặt tâm lý, Niết-bàn đoạn trừ lòng ích kỹ của bản
ngã, giải thoát mọi tri kiến, đạt tứ vô lượng tâm: từ, bi,
hỷ, xả. - Về mặt đạo đức, Niết-bàn đoạn tận toàn bộ lậu hoặc tham
sân si…
Như vậy Niết-bàn là một đạo quả, một chứng ngộ, một trạng
thái tinh thần với trí tuệ rốt ráo mà con người đạt
được. Đó là sự thành tựu tối thượng của sự chuyển
hóa nhận thức, từ quy ước sang nhận thức tối hậu vượt
ra khỏi biên giới thế gian. Niết-bàn là trí tuệ rốt
ráo (bát nhã) được biểu lộ qua sự thoát khổ, giác ngộ, giải
thoát của một bậc chứng đạo, ra khỏi vòng luân hồi sinh tử./.
THÍCH NỮ HẰNG NHƯ
(Chân Tâm thiền đường - August 20-2020)
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét