Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2025

Ý NGHĨA CHỮ TU TRONG ĐẠO PHẬT

 

Ý NGHĨA CHỮ TU TRONG ĐẠO PHẬT

Hôm nay bài học về chữ TU trong đạo Phật, cô đọng ý nghĩa lại để cho mọi người dễ hiểu và thực hành, và chữ TU gồm có các phạm trù sau đây:

TU: gồm có tu thân, tu khẩu và tu ý. Tức tu ba nghiệp thân, khẩu  và ý.  Tu có hai phạm trù, tu thân tâm và tu hoàn cảnh. Trước chúng ta nói về tu thân tâm, gồm có các yếu tố như sau.

Tu thân gồm 3 phần: Không sát sanh, không trộm cắp và không tà dâm.

Tu khẩu gồm có 4 phần: không nói lời hung ác, không nói lời sai sự thật, không nói lời hoa mỹ, không nói lời vô nghĩa, tức thêu dệt.

Tu ý gồm có 3 phần: Không tham, không sân, không si.

Tổng cộng  ba nhiệp thân, khẩu, ý có 10 điều, Nếu làm ác thì gọi là 10 ác nghiệp, còn nếu không làm ác thì gọi là 10 thiện nghiệp. Không sát thì là phóng sanh, không trộm cắp thì lại bố thí, không tà dâm thì lại sống trong sạch, không nói hung ác, lại nói lời hiền từ, không nói dối thì nói sự thật, không nói hoa mỹ thì nói lời đúng đắn, không nói lời thêm thắt, thì nói chân thật ... Không tham thì buông xả, không sân thì từ bi, không si thì sáng suốt.

Tuy là 10 điều nghe ra thấy nhiều quá, gồm thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Bây giờ chúng ta quán chiếu không để ý giữ hay không giữ hai nghiệp thân và khẩu, tức 7 giới ban đầu. Chúng ta quan tâm giữ một phần giới của Ý,  vì trong kinh Pháp cú nói: “Trong các pháp tâm làm chủ, tâm dẫn đầu tạo đủ mọi duyên, tâm nhơ tạo nghiệp chẳng hiền, như xe lăn bánh khổ liền theo sau”. Từ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối… đều phát xuất từ ý nghiệp mà phát khởi ra. Vậy chúng ta chỉ cần giữ ý thì các điều kia không phạm. Nhưng ý lại có ba, tham, sân, si. Tham và sân rất khó trị chúng ta cũng không lo sợ, cũng không quan tâm. Chúng ta quán chiếu phần SI. Si là từ nói khác của Vô minh. Vô minh là không sáng suốt, không có trí tuệ. Vậy tất cả 9 giới đầu vi phạm đều bắt nguồn từ Si mà ra, từ Vô minh mà thành.

Bây giờ chúng ta dùng trí tuệ để phá vô minh thì 9 giới đầu không cần giữ mà vẫn trong sạch. Nhưng giữ cho được Ý là điều vô cùng khó, vì trong kinh nói ý thức như con khỉ,  con ngựa luôn luôn chuyển động, “nên gọi tâm viên ý mã”.  Vì thế giữ Ý niệm rất khó chúng ta dùng danh hiệu Phật “Nam mô A Di Đà Phật” để niệm. Niệm danh hiệu Phật là phương pháp cột tâm, trụ tâm rất dễ. Dù là con khỉ, con ngựa có hung hăng cở nào khi bị xích bởi một sợi dây thì không thể chạy đông chạy tây được.

Các phương pháp tu khác, như Thiền tông thì dùng tuệ để phá vô minh, còn pháp tu Tịnh độ lấy câu Phật hiệu để phá trừ vô minh.   Tu tập làm sao để có Tuệ là điều rất khó không phải ai cũng tu đều có huệ để phá vô minh phiền não. Các bậc trung căn và hạ căn không có phần, vì thế bậc trung căn và hạ căn dùng pháp niệm Phật để hạn chế phiền não vô minh thì rất dễ ai cũng làm được.

Khác biệt giữa tu Huệ và tu Niệm Phật.

Giả sử  nếu có trí tuệ để phá vô minh phiền não, cũng chỉ phá phiền não thô chứ vi tế phiền não phải cần có trí  tuệ của những bậc đại triệt đại ngộ mới làm xong.   Tức chỉ phá kiến hoặc phiền não, chứ  Tư hoặc phiền não không thể dứt trừ tận gốc được.  Mục đích tu thiền là để kiến tánh, mục đích của niệm Phật để vãng sanh. Tu để kiến tánh thì rất khó ngàn người may ra có một, còn tu niệm Phật thì ngàn người có thể đạt 900 đến 1000 người.  Vì tu thiền là pháp tự lực nên khó thành lâu đến. Còn pháp tu niệm Phật là pháp dựa vào tha lực, có sự bảo hộ bảo hành của Phật và Bồ tát nên mau thành dễ đạt.

Căn cứ vào nguyện thứ 18 của Phật A Di Đà, là nếu có chúng sanh nào trong mười phương thế giới, hễ hết lòng tin tưởng và niệm danh hiệu ngài mười niệm, cầu mong sanh về nước ngài, thì lúc lâm chung Phật và thánh chúng sẽ hiện ra trước mắt, rước về Cực lạc.

Người tu niệm Phật là nương nhờ bổn nguyện của Phật A Di Đà mà không sợ, không lo ở lại Ta bà, dù là hạng ngu phu ngu phụ không biết chữ nghĩa, chỉ biết niệm câu Nam mô A Di Đà Phật, là sẽ được Phật trợ niệm vãng sanh lúc lâm chung.

Ba hạng người niệm Phật vãng sanh.

Kinh Vô Lượng nói:  “ Đức Phật bảo ngài A Nan: Các hạng trời, người trong mười phương, có tâm chí thành muốn sanh về cõi ấy, phân làm ba bậc:”

a/ Bậc thượng: Là hạng bỏ nhà lìa dục, tu  hạnh sa môn, phát Bồ đề tâm, một lòng chuyên niệm A Di Đà Phật, tu các công đức nguyện sanh Cực Lạc. Những chúng sanh ấy, đến lúc lâm chung, Đức Phật A Di Đà cùng các thánh chúng hiện ra trước mặt, trong khoảng sát na liền theo Đức Phật vãng sanh Cực Lạc, tự nhiên hoá sanh trong ao bảy báu, đắc bất thối chuyển, trí  tuệ dũng mãnh, thần thông tự tại. Bởi thế, này An Nan ! Nếu có chúng sanh, muốn trong hiện tại, thấy được Phật A Di Đà, phải nên phát tâm Vô thượng Bồ đề, tu hành công đức, nguyện sinh Cực Lạc.

b/ Bậc trung: Là những chúng sanh trong mười phương thế giới, hết lòng muốn sanh về cõi Cực Lạc, tuy không thể tu hạnh sa môn, nhưng tu tập nhiều công đức lớn, phải nên phát Bồ đề tâm, một lòng chuyên niệm A Di Đà Phật, tuỳ sức mình mà tu các hạnh lành, phụng trì trai giới, xây chùa lập tháp, cúng dường chư tăng, treo phướn, thắp đèn, rải hoa, đem những công đức này hồi hướng, nguyện sinh Cực Lạc. Người ấy lúc lâm chung, Hoá thân của Đức Phật A Di Đà, đầy đủ quang minh tướng hảo như Đức Phật thật, cùng các thánh chúng hiện ra ở trước, người ấy trong khoảng sát na liền theo hoá Phật vãng sanh Cực Lạc, đắc bất thối chuyển, công đức trí tuệ kém hơn bậc thượng.

c/ Bậc hạ: Là những chúng sanh mười phương, có lòng chí thành, muốn sanh Cực Lạc. Giả sử không thể tu tập các công đức, cũng phải nên phát tâm Vô thượng Bồ đề, một lòng chuyện niệm Phật A Di Đà, dù chỉ mười niệm, nguyện sanh Cực Lạc. Nếu nghe Phật pháp thâm sâu, hoan hỷ tin ưa, tâm không nghi ngờ, dù chỉ một niệm, niệm Phật A Di Đà, nguyện sanh Cực Lạc, người ấy lúc lâm chung, mộng thấy Đức A Di Đà, liền được vãng sanh, công đức trí tuệ kém hơn bậc trung.

Tuy ba bậc công hạnh có khác nhau, tu tập có chánh hạnh và trợ hạnh. Chánh hạnh ba bậc đều lấy câu Phật hiệu là chánh, quy hướng vãng sanh. Còn trợ hạnh là các hạnh lành làm các công đức, như xây chùa,  tạo tượng, dựng tháp, đúc chuông, cúng Tăng, bố thí v.v. làm phụ. Như vậy công hạnh của chín phẩm, ba bậc chỉ là niệm Phật.

Sự lợi ích của niệm Phật.

Kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật bảo ngài Di Lặc:

Nếu có người nghe, danh hiệu Phật ấy

Lòng rất vui mừng,  dù chỉ một niệm

Nên biết người ấy,   được lợi ích lớn

Sẽ được đầy đủ,  công đức vô lượng

Công hạnh niệm Phật chia làm ba bậc, điều này chia làm hai nghĩa (1)  chia theo “Quán niệm sâu cạn”, (2) chia theo “Niệm Phật nhiều ít”.

1/ Sâu cạn: “Nếu nói về công hạnh, đúng lý niệm Phật là cho bậc Thượng thượng”

2/ Nhiều ít: Quán Niệm Pháp Môn nói: “Mỗi ngày niệm danh hiệu Phật vạn câu, lại tuỳ thời lễ bái, tán thán sự trang nghiêm Tịnh độ. Cần phải rất tinh tiến. Hoặc niệm ba vạn, sáu vạn, mười vạn , đây đều là bậc Thượng phẩm thượng sanh”. Còn niệm ba vạn câu trở xuống là hành nghiệp của bậc Thượng trung trở xuống. Tuỳ theo số mục niệm Phật nhiều hay ít mà phân biệt phẩm vị.  Còn bậc Hạ phẩm, nói Một niệm, là chỉ một niệm trong Nguyện Niệm Phật thành tựu (Nguyện thứ 18), và chỉ một niệm trong bậc Hạ phẩm hạ sanh. Trong Nguyện thành tựu, tuy nói một niệm, nhưng chưa nói đến công đức đại lợi. Như vậy bậc Hạ phẩm niệm từ Một niệm đến Mười niệm được vãng sanh.

Như thế, một niệm hay mười niệm, các hành giả cầu vãng sanh Tịnh độ, sự niệm Phật đại lợi ích vô thượng, mà có hành giả lại miễn cưỡng tu các  công hạnh tiểu lợi  mà bỏ công hạnh đại lợi là Niệm Phật.

  Thâu nhiếp bằng hào quang.

Ánh sáng hoà quang của Đức Phật A Di Đà không chiếu đến hành giả khác, mà chỉ thâu nhiếp hành giả niệm Phật.

Hành giả khác là hành giả nào? Là những người không niệm Phật, không tin có cõi Cực Lạc, không tin có Phật A Di Đà. Những hạng người này ánh sáng hào quang của Phật không chiếu soi đến họ. Như vậy, Phật có phải không bình đẳng không. Ở đây không thể nói Phật không bình đẳng được, đứng trên nhân quả mà nói, có cảm thì có ứng, không cảm thì không ứng vậy thôi. Cũng ví như điện thoại, nếu có kết nối với số máy nào, thì sẽ nhận được sự liện hệ với số máy đó, còn ngoài ra không thể kết nối được.

Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: Đức Phật Vô Lượng Thọ có tám vạn bốn ngàn tướng,  mỗi tướng có tám vạn bốn ngàn vẻ đẹp, trong mỗi vẻ đẹp có tám vạn bốn ngàn tia sáng, mỗi tia sáng đều chiếu khắp mười phương thế giới, thâu nhiếp tất cả chúng sanh niệm Phật.

Ở đây có ba nghĩa:

a/ Duyên thân thiết:  Chúng sanh khởi tâm tu hành, miệng thường niệm Phật, Phật ắt nghe thấy, thân thường lạy Phật,  ắt Phật nhìn thấy, tâm thường nhớ Phật, Phật ắt biết rõ; chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, Phật cũng nhớ chúng sanh, niệm chúng sanh. Ba nghiệp của đôi bên thường không xa lìa nhau, cho nên gọi là duyên thân thiết.

b/  Duyên gần:  Chúng sanh xưng niệm danh hiệu Phật, Phật tức thời cảm ứng, hiện ra trước mắt họ, cho nên gọi là duyên gần.

c/  Duyên tăng thượng: chúng sanh xưng niệm danh hiệu Phật, tức là có thể diệt trừ được nhiều kiếp tội chướng, đến lúc lâm chung, Phật và thánh chúng, tự nhiên đến nghinh tiếp, những tà nghiệp trói buộc không thể làm chướng ngại sự vãng sanh, cho nên gọi là duyên tăng thượng.

Các công hạnh khác, tuy cũng gọi là thiện, nhưng nếu so với niệm Phật, thì hoàn toàn không so sánh được.

Hoà thượng Thiện Đạo trong Lục Thời Lễ Tán nói:

Thân sắc Di Đà như kim sơn

Tướng hảo quang minh chiếu mười phương

Riêng người  niệm Phật được coi chiếu

Nên biết Bổn nguyện rất kiên cường

Niệm Phật dễ  ai cũng niệm được:

- Nếu dùng công đức tạc tượng, đúc chuông, xây chùa, làm thiện, thì người nghèo không có phần. Vì người giàu thì ít người nghèo thì nhiều.

- Nếu dùng trí tuệ, tài cao làm bổn nguyện, thì người ngu ắt không có phần. Vã lại người trí thì ít người ngu thì nhiều.

- Nếu dùng học rộng nghe nhiều làm bổn nguyện, thì người ít học không có phần. Vã lại người học rộng thì ít, kẻ ít học thì nhiều.

- Nếu dùng nghiêm trì giới luật làm bổn nguyện, thì người phá giới, hoặc người không có giới không có phần. Vì người trì giới thì ít, người không giữ giới và không có giới thì nhiều.

Còn những công hạnh khác chuẩn theo đây sẽ rõ. Nên biết nếu dùng những công hạnh trên làm bổn nguyện, thì sẽ rất ít người được vãng sanh. Vì thế, do lòng từ bi bình đẳng, vì muốn độ thoát tất cả chúng sanh, quyết chắc sẽ không dùng những công hạnh như trên lập thành bổn nguyện, mà chỉ dùng một hạnh xưng danh niệm Phật làm công hạnh vãng sanh.

Ngài Pháp Chiếu có kệ rằng:

Phật ấy, đời trước lập thệ nguyện lớn

Nghe tên, tưởng nhớ, đều đến rước

Không phân nghèo khó, hoặc giàu sang

Không phân kẻ ngu, người trí tuệ

Không phân học rộng, hoặc trì giới

Không phân phá giới, tội chướng sâu

Chỉ cần hồi tâm siêng niệm Phật

Có thể làm đá hoá ra vàng./.

Vì vậy, nên nói niệm Phật dễ là như thế,  hãy tin và chuyên tâm thường niệm Phật thì trước sau gì cũng được vãng sanh ./.

{]{

Ý NGHĨA CHỮ TU TRONG ĐẠO PHẬT Rating: 4.5 Diposkan Oleh: CHÙA TAM BẢO TAM KỲ

0 nhận xét:

Đăng nhận xét