BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
Hôm nay chúng ta có cơ duyên tốt như vậy để cùng nghiên
cứu học tập Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh đối với quí vị tại Học Hội Tịnh Tông
Hoa Kỳ. Chúng ta biết đại đức xưa thường nói: “biển Phật pháp, người tin là có
thể vào, người trí là có thể độ”. Thế Tôn cả đời dạy học, tức là giảng kinh nói
pháp, tất cả kinh điển đã nói trong 49 năm thì thời gian giảng Bát Nhã chiếm
nhiều nhất, số lượng cũng nhiều nhất. Từ đó cho thấy, giáo dục Phật pháp là lấy
trí tuệ Bát Nhã làm chủ. Thường hay có một số người tu pháp môn Tịnh Độ ngộ
nhận, người tu Tịnh Độ hay lơ là trí tuệ Bát Nhã, cách nhìn như vậy là không
đúng. Chúng ta thấy trong Kinh A Di Đà, Thế Tôn vì tuyên dương pháp môn này mới
đặc biệt gọi tôn giả Xá Lợi Phất trí tuệ đệ nhất ra nói với ông. Trong chúng Bồ
Tát, chúng ta nhìn thấy Đại Sĩ Văn Thù trí tuệ đệ nhất, làm thượng thủ đứng đầu
trong chúng Bồ Tát của Kinh A Di Đà. Từ đó cho thấy, nếu như không phải đại trí
chân thật thì rất khó tiếp nhận pháp môn này. Vì thế, câu nói “người trí là có
thể độ” đối với Tịnh Độ là câu nói vô cùng xác đáng.
Hôm nay xin giới thiệu bộ Tâm Kinh này với quí vị. Tâm
kinh, bản dịch xưa nay tổng cộng có 14 bản, nhưng thường thấy có bảy bản. Hiện
nay chúng ta chọn là bản dịch của đại sư Huyền Trang, cũng là bản dịch lưu
thông rộng nhất. Bản kinh này ở Trung Quốc thường được các tông phái chọn làm
khóa tụng sáng tối. Từ đó cho thấy, Tâm Kinh đã chiếm được địa vị trong toàn bộ
Phật giáo. Do thời gian của chúng ta có hạn, lần này tuy không thể nói tường
tận, nhưng nhất định sẽ nêu ra chỗ tinh yếu nhất để báo cáo đơn giản cùng quí
vị.
Trước tiên, chúng ta xem đề kinh: “Bát Nhã Ba La Mật Đa
Tâm Kinh”. Toàn bộ đề kinh có 8 chữ, có thể phân nó làm bốn đoạn để xem. Bát
nhã là đoạn thứ nhất, Ba La Mật Đa là đoạn thứ hai, Tâm là đoạn thứ ba, Kinh là
đoạn thứ tư. Bát Nhã là tiếng Phạn, cũng chính là ngôn ngữ của Ấn Độ xưa, dịch
qua ý nghĩa của tiếng Trung Quốc là trí tuệ. Tại sao năm xưa chúng ta dịch kinh
không dịch trực tiếp nó thành trí tuệ vậy? Đây là do trong thể lệ phiên dịch có
cái gọi là năm điều không thể dịch. Năm điều không thể dịch này là:
- Điều thứ nhất là bí mật. Chúng ta thấy rất nhiều câu
chú trong kinh Phật đều là dịch âm, không hề dịch ý nghĩa của nó ra, đây là
loại thứ nhất.
- Điều thứ hai là chứa nhiều nghĩa, trong từ vựng Trung
Quốc tìm không ra từ thích hợp, vậy là chúng ta bèn dùng âm dịch, sau đó dùng
cách giải thích thêm. Như từ Bạc Già Phạn, cái ý ở trong danh từ này chứa đựng
rất nhiều nghĩa.
- Điều thứ ba là từ Trung Quốc không có. Như trong kinh
nói Diêm Phù Đề, Diêm Phù Đề là danh xưng của cây, là tên gọi của cây, loại cây
này ở Trung Quốc không có, cho nên bèn dùng âm dịch này.
- Điều thứ tư là thuận theo xưa.
- Điều thứ năm là thuộc về tôn trọng. Bát nhã ba la mật
là thuộc về tôn trọng nên không dịch. Ở trong giảng nghĩa này có một biểu giải,
giải thích đơn giản hàm nghĩa danh tướng này của bát Nhã.
Thông thường mà nói Bát Nhã có ba ý nghĩa:
- Thứ nhất là thực tướng, tướng là tướng trạng, thực
tướng chính là hình ảnh chân thực.
- Nghĩa thứ hai là quán chiếu Bát Nhã, cũng chính là chỗ
dụng của thực tướng.
- Nghĩa thứ ba là văn tự Bát Nhã.
Có thể nói toàn bộ văn tự trong kinh điển của kinh Phật
đều thuộc vào loại văn tự Bát Nhã. Biệt danh của nó rất nhiều, như trong kinh
nói chân tánh, thực tướng, tự tánh, thanh tịnh tâm, Như Lai Tàng, như như, thực
tế, nhất thừa, pháp tánh, thủ Lăng Nghiêm, trung đạo, tất cánh không, v.v… Vì
sao chỉ có một sự việc mà Phật phải nói ra rất nhiều danh tự như vậy? Đây là
phương tiện thiện xảo của Phật thuyết pháp. Phật dạy chúng ta, điều quan trọng
nhất là muốn chúng ta phải thông hiểu nghĩa thú mà Phật thuyết pháp, không nên
chấp trước trên danh tướng. Danh tướng chỉ là công cụ, phương tiện mà thôi. Vì
thế Phật nói ra rất nhiều danh từ, để chúng ta từ trong danh tướng đó thể hội
được nghĩa lý chân thực. Trong Trí Độ Luận đã nói một bài kệ rất hay:
Bát nhã thị nhất pháp
Phật thuyết chủng chủng danh
Tùy chư chúng sanh loại
Vi chi lập danh tự.
Nghĩa là:
Bát nhã là một pháp
Phật nói nhiều danh từ
Tùy vào loài chúng sanh
Vì họ lập danh tự.
Bài kệ này vô cùng quan trọng, để cho chúng ta hiểu được
nguyên do Phật nói kinh là vì tất cả chúng sanh mà dựng lập nên rất nhiều danh
từ, thuật ngữ. Thông thường chúng ta dùng từ trí tuệ để dịch chữ Bát Nhã này.
Trí có nghĩa là chiếu kiến, Tuệ có nghĩa là biện biệt. Cho nên trí có tính
quyết đoán, trí có khả năng quyết đoán; Tuệ có khả năng hiểu, chiếu soi thấy
tất cả pháp quả thực là không thể được, thông đạt tất cả pháp quả thực không hề
chướng ngại. Đây là trí tuệ chân chánh. Bát Nhã Ba La Mật Đa, câu Ba La Mật Đa
phía sau này cũng là âm dịch từ tiếng Phạn. Ba La dịch là bờ kia, Mật Đa dịch
là đến, hợp chung lại là bờ kia đến. Đây là văn phạm nước ngoài, theo như văn
phạm của Trung Quốc mà nói thì phải nói ngược lại tức là đến bờ kia, họ thì nói
bờ kia đến. Ý nghĩa của câu này so với từ đáo gia mà trong thành ngữ Trung Quốc
chúng ta thường nói, thì ý nghĩa này rất gần nhau. Người Trung Quốc phàm là một
việc gì khi làm được rất thành thạo, vô cùng viên mãn đều gọi là đáo gia. Thí
dụ vẽ tranh, công phu vẽ tranh thành thục rồi chúng ta gọi là họa gia, công phu
của họ đáo gia rồi. Nấu nướng, chúng ta gọi là xào thức ăn, thức ăn họ xào cũng
đáo gia rồi, công phu đáo gia rồi. Hay nói cách khác, ý nghĩa của Ba La Mật Đa
này chính là cứu cánh viên mãn mà chúng ta thường nói. Bát Nhã Ba La Mật Đa hợp
chung lại mà nói thì chính là trí tuệ cứu cánh viên mãn. Có thể thấy được điều
này so với trí tuệ thông thường là có sai khác.
Theo tiếng Phạn, từ đến bờ kia này rốt cuộc nó bao hàm
những ý nghĩa nào? Trong chú giải của cổ nhân có nói: “Đem sinh tử dụ cho bờ
này, lấy Niết Bàn dụ cho bờ kia”. Hay nói cách khác, chúng ta dùng trí tuệ nhã
bát cứu cánh viên mãn này mới có thể thoát khỏi sanh tử, chứng đắc bờ kia của
đại niết bàn. Quá trình tu học Phật pháp, ở trong kinh luận Phật thường hay
nói: “Phàm phu tu hành thành Phật phải trải qua ba đại A Tăng kỳ kiếp”. Con số
này nếu dùng cách nói của người hiện nay mà nói thì là con số thiên văn. Thời
gian không phải dùng ngày tháng năm để tính mà dùng kiếp để tính, phải ba đại A
Tăng kỳ kiếp. Trong kinh Phật thường nói, mỗi một vị đồng tu chúng ta, từ vô
lượng kiếp trong đời quá khứ đều đã từng nghe pháp tu hành, cho nên mới có
thiện căn, phước đức, nhân duyên thù thắng như vậy, có thể nghe được đại pháp
cứu cánh viên mãn mà đức Thế Tôn đã nói trong một đời. Thế thì chúng ta đã tu
hành từ vô lượng kiếp trong đời quá khứ mà tại sao chúng ta vẫn chưa thành Phật
vậy?
Quí vị cần hiểu rõ một sự thật là ba đại A Tăng kỳ kiếp ở
trong Phật pháp đã nói bắt đầu tính từ đâu? Theo như tiểu thừa mà nói là phải
bắt đầu tính từ khi chứng đắc sơ quả Tu Đà Hoàn, hay nói cách khác, tuy có tu
hành mà chưa chứng đắc sơ quả thì đều không tính đến. Như vậy chúng ta mới thật
sự chợt hiểu ra, chúng ta từ vô lượng kiếp mãi cho đến hôm nay, tuy đã nhiều
kiếp tu hành, nhưng xưa nay chưa từng một lần chứng được sơ quả. Tại sao lại
như vậy? Nếu như chứng được sơ quả, thì bạn chắc chắn sẽ không thối chuyển. Sơ
quả gọi là quả vị bất thối, cho nên bắt đầu tính từ đây, trải qua ba đại A Tăng
kỳ kiếp mới thành tựu Phật đạo.
Ở trong biểu giải này cũng nói rất rõ ràng: “Tam hiền
trải qua một A Tăng kỳ kiếp”. Tam hiền là nói thập trụ, thập hạnh, thập hồi
hướng. Ba mươi quả vị này của Bồ Tát là đạo lực yếu, điều phục phiền não. Đạo
lực yếu thì bị phiền não điều phục, đây gọi là viễn ba la mật, còn cách xa trí
tuệ cứu cánh viên mãn. Tại sao vậy? Vì phiền não đã làm chướng ngại mất trí
tuệ, trí tuệ tuy có đó, nhưng do có phiền não cho nên trí tuệ không thể hiện
ra. A Tăng kỳ kiếp thứ hai là từ sơ địa đến thất địa. Lúc này đạo lực tăng
trưởng, có năng lực điều phục phiền não rồi, cho nên gọi là cận ba la mật, đối
với trí tuệ cứu cánh viên mãn ngày càng gần hơn. Và đến bát địa, cửu địa, thập
địa, ba quả vị này cũng phải trải qua một A Tăng kỳ kiếp, sức thiền định và trí
tuệ đều rất mạnh, cho nên có thể điều phục dứt phiền não, lúc này gọi là đại ba
la mật. Trong biểu giải trên đã xếp ba đại A Tăng kỳ kiếp này, ở trong tứ giáo
thì quả vị của Bồ Tát thuộc về biệt giáo.
Đề kinh thứ ba, đoạn thứ ba là tâm. Chữ này là chữ Trung
Quốc, từ xưa đến nay giải thích ý nghĩa của chữ này rất nhiều, tức là tinh yếu
của 300 quyển. Cách nói này tương đối viên mãn. Trong tất cả kinh điển mà đức
Thế Tôn đã nói thì phân lượng của Kinh Đại Bát Nhã tương đối nhiều, dịch sang
Trung văn tổng cộng có 300 quyển, trong tất cả kinh đã dịch sang trung văn thì
phân lượng của nó lớn nhất. Bộ tâm kinh này chính là tinh yếu của 300 quyển, là
cương lĩnh của 300 quyển, là tinh hoa của 300 quyển. Cho nên, đây là trung tâm
của Kinh Đại Bát Nhã, cũng như tạng tâm của con người, tạng tâm trong toàn bộ
cơ thể. Vị trí của nó vô cùng quan trọng. Nếu như tạng tâm ngừng hoạt động, thì
con người này sẽ nói lời từ biệt. Chữ kinh sau cùng này là thông đề, bảy chữ phía
trước là biệt đề. Tất cả kinh Phật nói đều gọi đó là kinh, tiếng Phạn gọi là Tu
Đa La. Giải thích đơn giản dưới đây cũng chính là nghĩa mà các đại đức chú giải
kinh, các đại đức giảng kinh từ xưa đến nay thường dùng nhất là: “Quán nhiếp
thường pháp”. Quán là thấu suốt nghĩa lý đã nói, nhiếp là thu hút chúng sanh
được giáo hóa.
Một chữ Quán này, văn tự hay ở trong thế gian có thể nói
đều có thể làm được. Như người Trung Quốc chúng ta thường đọc cổ văn quán chỉ,
đây là trước tác của cổ nhân, tinh tuyển 300 thiên, biên tập thành tập sách
này. Văn chương được tinh tuyển trong đây, đối với chữ Quán này quả thật đều có
thể làm được cả. Nhưng nhiếp thì tương đối khó hơn, ý của chữ Nhiếp này là
khiến độc giả đọc trăm lần không chán, muốn thôi cũng không được, giống như nam
châm hít sắt vậy. Nó có sức mạnh này. Bài văn hay của thế gian quả thật có sự
tồn tại sức thu hút, nhưng rốt cuộc nó cũng có hạn. Có những trước tác văn học
hay, chúng ta đã xem một lần còn muốn xem thêm lần nữa, xem lần thứ hai còn
muốn xem tiếp, nhưng nếu như chúng ta sau khi tiếp tục đọc 10 lần, 20 lần, 30
lần thì không còn muốn xem nữa. Đây chính là nói sức thu hút của nó có hạn.
Không giống như kinh điển của Phật, bất kỳ bộ kinh điển nào của Phật cũng đều
có đầy đủ năng lực này, từ khi bạn mới phát tâm cho đến lúc thành Phật đọc đều
không thấy chán. Về mặt này, phàm là đồng tu nào có thâm nhập kinh tạng tôi tin
rằng đều có thể thể hội.
Thường là xưa nay không đổi, chúng ta gọi là chân lý
thường tồn. Pháp là xa gần đều tuân theo. Xa tức là thời xưa, trước đây 3000
năm, thời đại của Phật Thích Ca Mâu Ni; Kim là hiện nay. Nói cách khác, sự tồn
tại của nó quả thực là siêu việt không gian và thời gian, đây tức là chân lý mà
người hiện nay thường nói, Phật pháp gọi nó là kinh. Những điều mà trong kinh
này nói chính là trí tuệ cứu cánh viên mãn. Đề kinh chỉ giới thiệu đơn giản đến
đây thôi.
Người giảng: Lão Pháp sư Tịnh Không
Địa điểm: Thánh Hà Tây
Cẩn dịch: Vọng Tây cư sĩ, Viên Đạt cư sĩ
Biên tập: Phật tử Diệu Hiền
Hoan nghênh Quý Phật tử, các Bạn đồng học chia sẻ bài
pháp ngữ.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!
Nguồn sưu tầm
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét