PHƯỚC VÀ ĐỨC CÓ
THỂ TÁCH RỜI
NHAU HAY KHÔNG?
Hay nói, có Phước mà không có Đức, hay nói có
Đức mà không có Phước. Phước và Đức thì không thể tách rời, bởi vì thiếu một
trong hai thì con người khó sống được trọn vẹn. Phước mà không có thì đức sẽ
không bền, còn có Đức mà không tạo ra phước, thì khó phát huy đầy đủ ở trong
đời sống thực tế. Đức là căn bản để tạo
phước, người có trái tim nhân ái thực sự thì không cần ai nhắc nhở, thì cũng tự
nhiên biết chia sẻ cho người khác, khi trong lòng có sự cảm thông, thì hành
động giúp đỡ người khác sẽ phát sinh một cách tự nhiên và không hề gượng ép và
không tính toán. Ngược lại người sống
ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân mình, thì rất khó phát tâm giúp ai, và nếu có
giúp thì cũng thường kèm theo điều kiện hoặc là mong cầu nào đó. Không chỉ dừng
lại việc giúp người về vật chất. Người có đức họ có khả năng giúp người ở những
tầng sâu sắc hơn, đó chính là tinh thần và tâm linh. Có những lúc, người ta
không cần tiền, không cần vật chất mà người ta cần một sự lắng nghe, một lời
khuyên đúng lúc, hay là một sự hiện diện vững vàng, để giúp cho họ không bị sụp
đỗ. Những điều đó chỉ có thể xuất phát từ Đức chứ không phải từ phước đơn
thuần. Chiều ngược lại, phước là môi
trường để trau giồi và đo lường đức của chính mình. Khi mình làm phước, khi
mình thực sự ra tay giúp người, thì cái lúc đó cái Tôi, cái sự kiêu ngạo, ích
kỷ, và tham lam có cơ hội được hạ thấp xuống. Mỗi lần mình cho đúng cách, lòng
thương và sự thông cảm trong lòng mình lại được mở ra thêm một chút nữa. Chính
trong quá trình làm phước thì mình mới thấy rõ bản thân mình tới đâu, mình
thương người được bao nhiêu, mình có thực sự hay còn nghĩ cho riêng mình? Mình có sẳn sàng hy sinh hay là chỉ cho đi
phần dư thừa. Nếu như làm phước đúng cách thì mỗi lần giúp người, không chỉ là
giúp người mà còn là một lần giúp mình trưởng thành hơn, về mặt đạo đức.
Chúng ta sang một
điểm quan trọng: Phước hữu lậu và Đức
thì vô lậu. Phước gọi là hữu lậu, bởi vì phước thường gắng với vật chất, mà vật
chất thì không tồn tại mãi với thời gian, với con người. Chúng ta qua đời chúng
ta không mang theo được nhà cửa, ruộng vườn, tiền bạc, danh vọng, địa vị, những
thứ đó dù có nhiều đến đâu cũng để lại phía sau. Phước giống như cái kho dự
trữ, khi còn mình dùng, dùng mà không biết tạo thêm thì nó sẽ cạn kiệt. Trong thực
tế, thấy có những trường hợp như vậy, có những người tài sản của họ mất mác hết
trước khi họ qua đời, cuộc sống của họ bị đảo lộn khi về già, có những người
rất nhiều tiền bạc nhưng lại bệnh tật triền miên, không đủ sức khỏe để hưởng
thụ những gì mình đã có, những thứ nầy nó cho ta thấy tính chất không bền của
phước. Nếu như phước đó không không dựa trên nền tảng của đức. Ngược lại, Đức
là vô lậu, Đức không hề mất đi mà còn đi theo mình rất lâu dài. Đức không phải
là thứ bên ngoài, mà là phẩm chất trở thành bản thể của mình, linh hồn của mỗi
người, suốt cuộc đời là chúng ta học qua
rất nhiều hoàn cảnh khác nhau, từ thành công cho đến thất bại, từ giàu cho đến
nghèo khó, từ khỏe mạnh cho đến bệnh tật. Mỗi hoàn cảnh là một bài học, và khi
mình học được bài học đó, nó trở thành một phần của mình. Ví dụ như một con
người rất nóng tính, ban đầu họ rất dễ nổi giận, dễ làm tổn thương người khác,
nhưng sau khi qua nhiều va chạm, nhiều mất mát, thì họ học cách dừng lại, học
cách nhìn sâu hơn, phản ứng chậm hơn. Lúc đầu đó là sự cố gắng của họ, nhưng
dần dần sự điềm tỉnh đó trở thành tự nhiên, và khi đến một lúc nào đó người ta
không cần phải cố kiềm nữa, mà bản thân họ trở nên nhẹ nhàng hơn, dịu dàng hơn.
Thì lúc đó tính dịu dàng trở thành đức mà nó biến thành con người thật của họ.
Những phẩm chất như vậy không mất đi thân xác không còn, nó trở thành kinh
nghiệm, trở thành chiều sâu của linh hồn và đó là lý do đức được gọi là vô lậu.
Phước thì có thể
đến và đi, nhưng đức thì ở lại và chính đức sẽ quyết định rất nhiều đến chất
lượng của con đường tiếp theo trong cuộc sống của mọi người. Khi chúng ta nói
đến đức thì trong nhân gian từ xưa ông bà mình đã có nhiều câu nói rất ngắn
gọn, nhưng hàm ý rất sâu sắc. Những câu này không phải ngẫu nhiên mà tồn tại
qua nhiều đời nhiều thế hệ, mà nó là kết quả của sự quan sát đúc kết đời sống
lâu dài. Đó là câu “Tiên tích đức, hậu tầm long” có nghĩa là trước khi tìm long
mạch, đi tìm phong thủy để cho con cháu sau này khá giả, thì điều quan trọng
nhất vẫn là trong gia đình, trong dòng họ, mỗi người phải sống sao cho có đức.
Câu nói nầy, đức đứng trước mọi yếu tố bên ngoài, mà nếu như không có đức thì
dù có nắm được điều kiện tốt đến đâu kết quả cũng sẽ không bền.
Câu thứ hai: “Có
đức mặc sức mà ăn”, nghe qua rất đơn giản, rất đời thường, nhưng hàm ý bên
trong thì rất sâu sắc. Câu này có nghĩa là người có đức, thì muốn ăn bao nhiêu
cũng được, luôn có cái ăn no mặc ấm không bao giờ thiếu. Người có đức thì không phải muốn ăn bao nhiêu
cũng được, mà là nói rằng, khi một người sống có đức, thì cuộc sống của họ sẽ
tự nhiên có sự che chỡ, có sự nâng đỡ, và họ không quá lo lắng và bất an về
miếng ăn, về sự sinh tồn, sự an tâm đó đến từ bên trong, chứ không phải từ tiền
bạc ở bên ngoài.
Câu thứ ba: “Đức
năng thắng số”, một câu mà rất nhiều người quan tâm, cây này muốn nói rằng, số
phận, hoàn cảnh hay bất lợi ở trong đời, không phải là thứ quyết định hoàn toàn
cuộc đời của một con người. Nếu như ta biết tu sửa tánh tình, biết sống có đạo
đức, thì chính cái đức đó có thể chuyển hóa và vượt qua những số phận.
Câu tiếp theo: “
Tướng bất cập số, số bất cập đức”, có nghĩa là tướng mạo có thể thua số, số có
thể kém mau mắn, nhưng cuối cùng tất cả sẽ không bằng đức. Đức được xem là tầng
cao nhất là yếu tố quyết định sau cùng.
Người có thể không
đẹp, không sinh ra trong hoàn cảnh tốt, nhưng nếu biết sống có đức thì cuộc đời
có thể chuyển hướng theo chiều tích cực hơn. Từ những câu nói nầy, chúng ta có
thể rút ra một kết luận rất rõ ràng. Đức
chính là nền móng lớn, là thứ có khả năng chuyển hóa vận mệnh của một con
người. Phước thì có thể đến rồi đi, Đức thì âm thầm tích lũy, và khi đủ nó sẽ
phát huy tác dụng vào những thời điểm quan trọng cuộc đời.
Chúng ta sẽ nói
sang một chương khái niệm khác, đó là chơn lý tương đối và chơn lý tuyệt đối.
Chơn lý tương đối mà con người có thể hiểu được và có thể thực hành được trong
đời sống. Ví dụ như ở hiền gặp lành, làm lành tránh dữ, hay gieo nhân nào gặt
quả đó. Đây là những chơn lý rất quen thuộc ai nghe cũng hiểu, ai cũng thấy
đúng, ai cũng có thể làm được. Nhưng lý do người ta gọi là chơn lý tương đối.
Bởi vì trong thực tế chúng ta biết vậy thì biết vậy, nhưng làm được hay không
là chuyện khác. Có những lúc mình biết điều đó là đúng, nhưng vì cảm xúc, vì
hoàn cảnh, chúng ta vẫn làm ngược lại, hoặc có những lúc ta làm được nhưng rồi
lại quên, không giữ được sự lâu dài, cho nên chơn lý này đúng nhưng thực hành
nó chưa chắc trọn vẹn.
Còn chân lý tuyệt
đối là những điều vượt xa điều suy tưởng của con người. Ví dụ như là bản thể vũ
trụ này là gì, nguồn gốc tối thượng của sự sống là gì, hay đấng tối cao thực sự
như thế nào. Những điều này chúng ta không thể dùng ngôn từ hay trí óc con
người để diễn tả cho đầy đủ, bởi vì bản thân con người với con người là sự hữu
hạn, còn những chân lý này thì vô hạn. Chính vì vậy, theo cách nhìn của mình,
trong đời sống hằng ngày điều quan trọng không phải cố gắng hiểu cho hết những
chân lý tuyệt đối, mà chúng ta sống làm sao cho đúng với chân lý tương đối mà
mình đã biết. Nhưng mà sống cho đúng ở đây cũng không phải là sống một cách máy
móc hay cực đoan. Chỉ đơn thuần là ở hiền gặp lành, mà là ở hiền như thế nào
cho đúng, không chỉ làm phước chúng ta sẽ có phước, mà làm phước ra sao để thật
sự mang lại kết quả tốt. Hiền mà nhu nhược để cho người khác ức hiếp lợi dụng
thì đó không phải là hiền đúng nghĩa. Làm thiện mà thiếu trí tuệ, thiếu sự suy
xét, thì rất dễ vô tình tạo nên những hậu quả xấu, cho nên hiền phải đi kèm
theo trí tuệ.
Sống hiền và làm
thiện phải đi kèm với trí tuệ, sẽ biết đâu là cách làm đúng, đâu là không đúng,
đâu là lúc chúng ta nên cho, đâu là lúc chúng ta nên dừng. Khi có trí tuệ, sự
hiền của chúng ta không trở thành yếu đuối, việc thiện chúng ta làm không trở
thành gánh nặng và sai lầm. Khi chúng ta
nói phước đức trong đời sống tu tập và hành trì, thì ta không thể nhắc đến một
cái khuôn rất quan trọng, đó là đạo Tam công, bao gồm Công phu, Công quả và
Công trình. Ba phần nầy liên hệ chặt chẽ
với nhau, và cũng chính là nơi phước đức hình thành, nuôi dưỡng và phát triển
một cách đúng đắn.
Trước hết là Công
phu, Công phu là phần quay về với đời sống nội tâm, thông qua sự cầu nguyện,
thiền định hay thực hành những pháp phù hợp với niềm tin của mình. Công phu
giúp cho mình kết nối với các đấng bề trên, nuôi dưỡng đức tin, không cho tâm
mình cuốn quá sâu vào những lo toan, những hơn thua đời sống bên ngoài. Khi một
người có thói quen công phu đều đặn mỗi ngày, nghĩa là dành thời gian quay về
với chính mình, và với đấng mình tôn thờ, thì đức tin của họ dần dần được bồi
đắp, và một điều rất thực tế là khi chúng ta công phu đều đặng, thì lúc chúng
ta bị khó khăn, bị biến cố, lời cầu nguyện chúng ta mới có hiệu lực hơn, không
phải vì bề trên thiêng vị, mà tâm của mình quen với sự kết nối, quen mở ra,
quen với sự tưởng tượng. Còn nếu cả đời chúng ta không bao giờ cầu nguyện, không
bao giờ quay về nội tâm, đến lúc gặp nạn mới vội vàng cầu xin, thì sự kết nối
đó rất yếu ớt, rất khó có chiều sâu. Ví như ta mua một chiếc xe mới đem về cất
mãi không bao giờ đề máy nổ, đến lúc muốn
đi, đề cho máy nổ để xe chạy thì không bao giờ được. Việc công phu cũng
tương tự như vậy, vì thế ông bà ta nói “Văn ôn, võ luyện”.
Phần thứ hai: Công
quả, Công quả là khi mình bước ra ngoài để giúp người, giúp đời, giúp đạo, cả
vật chất và tinh thần. Đó là có thể giúp đỡ một người đang khó khăn, hỗ trợ cho
một việc chung, hay bỏ ra công sức và thời gian để làm việc hữu ích cho người
khác, thì phần công quả nầy gắn chặt với phước. Bởi vì chính trong quá trình
mình ra tay giúp người, mình tạo ra những kết quả thiện lành trong đời sống. Tuy nhìn công quả thực sự có giá trị khi nó
được làm bằng tâm đúng đắn và phương pháp đúng. Nếu chúng ta làm công quả chỉ
vì phong trào, vì hình thức, vì mong cầu điều gì đó cho bản thân thì giá trị
tâm linh của nó sẽ giảm đi rất nhiều, thậm chí có khi không còn.
Thứ ba Công trình,
là quá trình tu sửa tánh hạnh, tu sửa tánh tình của mình, hoàn thiện con người
của mình, theo những giá trị đạo đức mà
chúng ta tin là đúng. Công trình không phải việc ngày một, ngày hai mà nó phải
làm cả đời. Đó là chúng ta sửa từ cái rất nhỏ, như là cái bớt nóng tính, bớt
nói tổn thương người khác, bớt tham, bớt chấp, hay là bớt hơn thua. Phần công
trình này gắn liền với Đức. Bởi vì chính
trong công trình nội tâm này, đức của mỗi người mới được hình thành và tích lũy
dần dần.
Từ đây, chúng ta
sang nguyên tắc cốt lõi của việc làm phước đó chính là Tâm và Pháp. Nguyên tắc
đầu tiên Tâm là yếu tố thẩm định giá trị mình có thể làm phước ở dưới nhiều
hình thức khác nhau, như là giúp tiền, giúp công, giúp lời nói, giúp tinh thần.
Nhưng cuối cùng giá trị mình làm được xét qua cái Tâm, Tâm thiện thì hành động
mới thiện. Nếu tâm có sai lầm, có mưu cầu, có tính toán thì hình thức bên ngoài
dù có đẹp đẽ tới đâu thì cái giá trị đó không còn trọn vẹn nữa.
Nhưng chỉ có tâm
tốt thôi cũng chưa đủ, tâm đúng cần phải có trình độ, trình độ đó thể hiện qua
ba yếu tố: Bi-Trí-Dũng. Bi là lòng thương xót, là sự cảm thông với nỗi khổ của
người khác. Trí là sự sáng suốt phán xét nguyên nhân của chúng, để ta chọn
phương pháp đúng đắn. Còn dũng là sự dám làm tới nơi tới chốn, đi đến nơi cuối
cùng, không bỏ ngang giữa đường. Thấy điều mình làm là đúng, chính vì cần cả ba
yếu tố này nên làm phước thật ra không hề đơn giản. Cần nhấn mạnh điều quan
trọng, đó là giúp hời hợt có thể hại người và rước họa về cho mình. Nếu mình
thấy rằng, mình không đủ thời gian, không đủ trí tuệ, hoặc không đủ khả năng để
đi tới cùng ở một việc giúp đỡ nào đó, tốt hơn hết nên cân nhắc thật kỷ và đừng
làm nữa vời. Ví dụ như giúp cho một người ăn xin, khi ra ngoài đường thấy người
ăn xin chúng ta bố thí cho vài đồng rồi đi, trong lòng chúng ta rất là hân
hoan, vì chúng ta đang làm một việc tốt. Nhưng thực tế số tiền đó, người kia
dùng để mua rượu bia, chất kích thích, dẫn đến say xỉn, tai nạn, hoặc gây gổ
đánh nhau. Và trong trường hợp đó thì vô tình, mình là người trở thành người
gián tiếp tạo ra hậu quả xấu. Cách làm đúng đắn hơn đó là. Nếu thực sự muốn
giúp đỡ thì hãy dừng lại hỏi họ, là có đói không, có cần ăn hay uống không, nếu
như họ đồng ý thì mình mua cho họ đồ ăn và nước uống, và khi mình thấy họ ăn được
thì mình mới yên tâm sự giúp đỡ của mình mang lại một kết quả tốt thật sự. Lúc
đó mình đang giúp cả Bi- Trí và Dũng, chứ không chỉ cảm xúc nhất thời. Ví dụ thứ hai, gởi tiền về cho người thân rất
nhiều, người đi làm xa, thương gia đình nên mỗi tháng đều gởi tiền về với ý
định ban đầu là tốt, nhưng nếu không quan sát kỹ, việc này vô tình tạo nên thói
quen ỷ lại, và họ dùng số tiền đó để cờ bạc, rượu chè, ăn nhậu, và các lý do để
lấy thêm. Cái cảnh giúp này đúng đắng, chúng ta có thời gian hãy đến tận nơi,
xem xét họ cần gì, có thể một công việc, hay mở một quán ăn cho họ có khả năng
độc lập về tài chánh, và nếu chúng ta giúp giúp một người tự nuôi sống bản
thân, thì đó mới là cách giúp bền vững.
Ví dụ thứ 3: là
chúng ta thông qua tổ chức từ thiện để chúng ta đóng góp, nhưng mà chúng ta
đóng góp như vậy qua nhiều trung gian, qua các hành chính chi phí v.v.. thì số
tiền còn lại rất nhỏ. Tuy nhiên theo cách nào mình phải luôn nhớ một nguyên tắc
quan trọng, đó là hãy giúp đỡ gia đình trước trong phạm vi của mình trước, khi
gia đình của mình chưa ổn, người thân của mình chưa chăm sóc đầy đủ, thì việc
chúng ta vươn tay quá xa rất dễ dẫn đến mất cân bằng, và đôi khi tạo ra hệ quả
ngược lại, với điều mình mong muốn. Khi nói làm phước có một nguyên tắc rất
quan trọng đó là thứ tự ưu tiên không phải chúng ta thấy điều tốt là chúng ta
vươn tay ra ra giúp, thì chúng ta phải xét theo hai thứ tự ưu tiên, phù hợp với
hoàn cảnh cuộc sống chúng ta. Thứ tự ưu tiên đầu tiên cũng là quan trọng nhất,
chính là gia đình của mình, làm phước trước hết là làm phước gia đình của mình.
Mình phải lo cho những người cư ngụ
trong gia đình được đầy đủ về vật chất và tinh thần. Vợ chồng sống với nhau còn
bất hòa, còn tổn thương nhau, thiếu sự quan tâm, thì dù có đi làm bao nhiêu
việc thiện bên ngoài, giá trị cũng không trọn vẹn. Phước lớn nhất là mình là
người gần gủi gia đình là một sự hạnh phúc, kế đến là con cái, con cái không
cần tiền bạc, mà cần sự hiện diện, sự dạy dỗ, sự làm gương của cha mẹ. Nếu mình
bận đi giúp người ở ngoài xã hội rất nhiều, mà con cái mình thiếu sự định
hướng, sự quan tâm, thiếu nền tảng đạo đức, thì đó không phải làm phước trọn
vẹn. Nuôi dạy con cái nên người chính là hình thức làm phước rất lớn, nhưng
nhiều người không nhận ra. Sau gia đình nhỏ của mình thì đến cha mẹ và anh em
ruột thịt. Cha mẹ là người sinh thành dưỡng dục mình, nếu mình có khả năng mà
để cha mẹ sống thiếu thốn, cô đơn, hoặc buồn lòng, thì việc mình đi làm từ
phước ở đâu đó xa xôi, rất khó được tính là phước lớn. Giúp cho cha mẹ yên tâm,
giúp cho anh em của mình trong khả năng của mình, thì đó là phước rất căn bản,
nhưng mà rất sâu dày.
Tiếp theo là bạn
bè, đồng nghiệp và những người xung quanh, đây là những người có duyên trực
tiếp với mình trong đời sống hàng ngày. Giúp trong phạm vi này, thường mang lại
hiệu quả rất rõ. Vì mình hiểu hoàn cảnh, hiểu con người, và mình kiểm soát được
của sự giúp đỡ. Làm phước ở đây cũng là giúp môi trường sống và làm việc của
mình trở nên hài hòa hơn, tốt đẹp hơn. Sau khi những vòng tròn gần ổn định và
mình vẫn còn dư khả năng thì lúc đó mình mới mở rộng ra cộng đồng lớn hơn và xã
hội, ra những nơi xa xôi hơn. Nhưng ngay khi chúng ta làm trong phạm vi rộng
thì chúng ta cũng phải giúp một cách tỉnh táo, và giúp sao có kết quả thực tế
chứ không phải là cảm xúc nhất thời.
Nhấn mạnh một điều rất quan trọng, đó là phước vượt quá khả năng, vượt
quá phạm vi của mình, dễ dàng dẫn đến mất cân bằng. Có người vì muốn làm nhiều
việc thiện mà bỏ bê gia đình, khiến cho người thân khổ buồn, con cái thiếu
thốn, đời sống riêng rối loạn. Trong những trường hợp như vậy, việc làm bên
ngoài không những không được công đức, mà đôi khi còn trở thành một bài học lớn
để mình quay lại nhìn nhận cho đúng thứ tự. Cho nên làm phước không phải làm cho nhiều, mà làm cho đúng chỗ, đúng lúc,
đúng thứ tự. Khi gia đình mình yên ổn, nội tâm vững vàng, khả năng mình rõ
ràng, thì mỗi một việc thiện mình làm ra bên ngoài thật sự nhẹ nhàng, bền vững
mang lại lợi ích cho cả người nhận cho đến chính bản thân mình.
Hình thức làm
phước lâu dài nhứt, bền bỉ nhất và ít rủi ro nhứt đó chính là pháp thí. Pháp
thí có nghĩa là chúng ta cho đi bằng sự hiểu biết, bằng lời nói đúng, bằng ánh
sáng và trí tuệ để giúp cho một người, để họ thay đổi từ bên trong. Khác với
tài thí là ta giúp về vật chất, hay giúp về tài chánh chỉ mang tính chất tạm
thời, còn pháp thí tác động trực tiếp đến tâm thức của con người. Có những người họ không thiếu tiền, họ không
thiếu điều kiện sống, nhưng họ khổ về rối loạn ở bên trong, vì họ mất phương hướng,
và họ không hiểu vì sao đời mình lại đi vào bế tắc. Trong những trường hợp đó,
điều họ cần không phải là tiền bạc, mà là một cách nhìn khác. Một lời chỉ dẫn
đúng lúc, một sự thức tĩnh để cho họ tự điều chỉnh lại cuộc sống của chính
mình. Pháp thí có thể rất đơn giản, đôi khi chỉ là một lời nói chân thành, một
góc nhìn cho người khác hiểu rõ vấn đề của họ, đôi khi chỉ giúp cho người khác
nhận ra điều gì đúng điều gì sai để họ dừng lại những hành động đang gây hại
cho chính họ. Và cũng có khi pháp thí giúp cho một người, biết quay về đời sống
tâm linh, biết kính trên nhường dưới, biết sống có giới hạn, có đạo lý. Điểm
đặc biệt của pháp thí là mình có thể làm suốt đời mà không sợ hết, không sợ
cạn. Tiền có thể hết, sức có thể mòn, nhưng sự hiểu biết và sự trải nghiệm
sống, nếu mình chịu học và chịu tu sửa, thì càng cho đi thì càng sâu hơn. Chính
vì vậy, trong rất nhiều truyền thống tâm linh, Pháp thí được xem là công đức
lớn. Bởi vì nó không những giúp cho một con người vượt qua giai đoạn khó khăn,
mà nó còn có thể giúp cho họ thay đổi hướng đi trong cả cuộc đời. Khi một người
thức tĩnh về mặt nhận thức, họ sẽ biết dừng lại những hành động sai, tự biết
sửa đi những thói quen xấu. Từ đó họ không còn tiếp tục làm việc xấu nữa. Điều
này không chỉ giúp họ trong hiện tại, mà còn giúp họ lâu dài về sau. Và khi
chúng ta góp vào sự thức tỉnh đó, thì công đức của mình tạo ra không phải là
nhứt thời, mà cũng mang chiều sâu rất to lớn.
Tuy nhiên, pháp
thí không chỉ là đi giảng dạy hay áp đặt quan điểm lên người khác, Pháp thí chỉ
nên làm khi có duyên và người khác sẳn sàng lắng nghe và khi mình đủ khiêm tốn
để chia sẻ, chứ không phải khi chứng tỏ. Nếu người khác chưa sẳn sàng, thì nói
nhiều cũng không có tác dụng, thậm chí còn phản tác dụng. Cho nên dù pháp thí
hay hình thức làm phước nào chúng ta cũng quy về nguyên tắc cũ nhưng rất quan
trọng đó là tùy duyên. Tùy duyên, tùy
lực, tùy hoàn cảnh. Mình làm trong khả năng của mình, trong phạm vi của mình
với sự tỉnh táo và khiêm nhường, không cần phải đi quá xa, không cần phải làm
những gì quá lớn lao, chỉ làm đúng với nơi mình đang đứng.
KẾT THÚC: Phước và
Đức là thứ không phải để cầu xin, không phải thứ để khoe khoang. Phước và Đức
là kết quả tánh tình mình sống mỗi ngày, cách mình đối xử với người thân, cách
mình phản ứng trước những khó khăn, cách mình giúp người khác khi mình có cơ
hội, và cách mình sửa đổi chính mình khi nhận ra sai sốt.
Khi mình hiểu cho
đúng, và hành trì cho đúng, thì phước
bên ngoài sẽ đến một cách tự nhiên, còn đức bên trong ngày càng vững vàng. Và
khi Phước và Đức song hành, cuộc đời dù có lúc thăng trầm chúng ta vẫn giữ được
sự bình an sáng suốt, và không bị lệch khỏi con đường đúng đắng của chính mình.
Mong rằng những chia sẻ nầy dù ít hay nhiều cũng sẽ giúp cho mình, tâm sáng
lòng vững, nhìn lại cách mình đang sống, đang giúp người và đang tu sửa bản
thân. Nếu mỗi ngày chúng ta chỉ cần tốt hơn hôm qua một chút, bớt ích kỷ một
chút, hiểu hơn một chút thì đó là chúng ta tích phước và tích đức rồi./.
(Nguồn sưu tầm;
Bài của Đặng Thái Cường trình bày).
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét