KINH NGHIỆM CẬN TỬ
Tu học để biết cách sống
và để biết cách chết đều quan trọng như nhau. Ai ở đời này cũng phải có chút
kinh nghiệm gì đó để mà đối diện cái chết, mà ở đây ta gọi là kinh nghiệm cận
tử, vốn được nói đến nhiều trong Phật giáo.
Mỗi người đều có một hạnh
nghiệp riêng. Đời sống của chúng ta phần lớn tuỳ thuộc vào các tiền nghiệp.
Chính ta định đoạt đời mình chứ không phải ai khác. Chúng ta luôn hành động
theo ý mình thích bằng cả hai khuynh hướng thiện và ác. Và nói vậy có nghĩa là
chính ý muốn ở mỗi người tốt xấu ra sao đó, sẽ quyết định hành trình sắp tới
của mình.
Nói một cách rốt ráo thì
biết cách chết hợp đạo còn quan trọng hơn là biết sống hợp đạo. Dòng luân hồi
dài thăm thẳm, chưa Niết Bàn thì chúng ta cứ liên tục mở ra những hành trình
mới, đi lên hoặc đi xuống. Và một người Phật tử dĩ nhiên chỉ huân tập thiện
nghiệp với ý hướng biến mình ngày một tốt hơn. Trong bài giảng này, nói về kinh
nghiệm cận tử, tôi đặc biệt nhấn mạnh về hai vấn đề:
- Nghiệp lý -Từ tâm, nghĩa là người tu học phải luôn biết tự điều
chỉnh Tam nghiệp cho chính mình, và chỉ nhìn về người khác bằng tâm thái từ
mẫn.
Chúng ta phải luôn nhớ
rằng cái gọi là sự sống luôn gắn liền với cái chết. Chính cái chết là một nửa
của đời sống và cũng là điểm kết thúc của đời sống. Ai cũng phải chết một ngày
nào đó, nhưng nó không thật sự đáng sợ như người ta vẫn nghĩ.
Nếu ta sống thanh thản
thì sẽ có được cái chết thanh thản. Sống trong âu lo chắc chắn sẽ chết trong âu
lo. Đây là điều phải biết khi bắt đầu nói về kinh nghiệm cận tử. Theo tôi được
biết thì trên thế giới này có biết bao nhiêu là chuyên ngành trường phái về
khoa học, triết lý, tôn giáo, văn hoá nhưng có lẽ chỉ có Phật giáo là dạy người
ta biết cách chết nào cho đúng.
Người Miến Điện có câu
ngạn ngữ rằng; “Cái quan tài chỉ đẹp khi ta có một đời sống đẹp“. Cho nên các
Phật tử Miến Điện thường không nói thầy tôi chết mà lại nói thầy tôi về trời,
gần giống chữ Quy Tiên trong tiếng Việt.
Ta học Phật đều biết rằng
một người dù ra sao đi nữa nếu lúc ra đi lại nặng lòng với những tư tưởng bất
thiện, thì điều đó có nghĩa là công phu tu học của người này vẫn còn có chỗ
khiếm khuyết, và từ đó chuyện sanh về lạc cảnh rất mong manh.
Trong giây phút cận tử
chúng ta không có thời gian để làm chuyện sám hối. Tôi bây giờ già rồi và đã có
dịp chứng kiến cái chết của rất nhiều tăng ni cư sĩ mãi đến tận lúc chết vẫn
không có được cái kinh nghiệm cận tử đúng mức. Tôi nghĩ trong những trường hợp
đó việc sa đọa gần như là đương nhiên. Và không phải ai trong số họ cũng có thể
được giúp đỡ hay cứu độ.
Người học A-Tỳ-Đàm biết
rằng trong 4 cảnh giới sa đọa chỉ có ngạ quỷ là có cơ hôi lớn nhất. Với 3 loài
còn lại thì gần như bất khả. Tôi từng kể cho quý vị nghe về một người đàn tín
của tôi phải bị mang kiếp thú trong vài tháng sau đó cũng chỉ thoát được bằng
nghiệp riêng của mình, không thể bằng sự gia trì của người khác. Lát nữa tôi sẽ
kể cho quý vị nghe về câu chuyện của mẹ tôi và việc tôi đã giúp đỡ bà như thế
nào.
Nhưng bây giờ tôi muốn
nói sâu hơn về kinh nghiệm cận tử mà quý vị nên biết. Trong giây phút cận tử ta
giống hệt như người chết đuối luôn quơ quào để nắm bắt bất cứ cái gì trong tầm
tay. Người cận tử cũng vậy thường có khuynh hướng chạy theo cái gì mà lúc bình
sinh gắn bó với mình nhất, thường là tình thân và tài sản. Tâm lý xả ly không
phải muốn là có.
Người học đạo phải biết
rằng một khi ta đã có lòng thương thích người hay vật gì đó thì rất khó mà
buông bỏ. Bởi đây chính là khuynh hướng của phàm phu. Một người muốn đi xa,
muốn lên cao thì phải biết buông tay chứ.
Tất cả những quan hệ thân
thương dù trong đạo hay ngoài đời cũng chỉ là sự gặp gỡ ngắn hạn trong đời này
mà thôi. Dầu khó cách mấy ta cũng ráng mà tập luyện thói quen lìa bỏ.
Ai ở đời này cũng phải đi
theo nghiệp của riêng mình. Cái chết là cánh cửa mở ra một hành trình mới, mỗi
người phải từ đó ra đi một mình và chuyện tay xách nách mang chỉ khiến ta chìm
xuống mà thôi. Trong kinh Phật dạy mười pháp Thường Niệm (anussati) có nghĩa là
những gì ta phải thường xuyên tâm niệm (anu+sati). Người cận tử phải có khả
năng tự xét xem hạnh thí xả (cāga), giới hạnh và Chỉ Quán của mình xem có đủ là
chỗ dựa lúc này hay không.
Trong A-Tỳ-Đàm có nói đến
bốn thứ nghiệp trong đời sống của chúng sinh là:
*Trọng Nghiệp
(Garukamma): Các nghiệp thiện ác lớn lao
* Thường Nghiệp
(Ācinnakamma): Các nghiệp thiện ác được ta lập đi lập lại nhiều lần trong đời.
*Khinh Thiểu Nghiệp
(Katattakamma): Những nghiệp thiện ác ít oi trong đời sống.
*Cận Tử Nghiệp
(Āsannakamma): Những nghiệp thiện ác được thực hiện ngay trước giờ mệnh chung.
Thông thường thì Thường Nghiệp và Cận Tử Nghiệp sẽ đóng vai trò quyết định việc
tái sinh của người cận tử.
Sayadaw Uttamasāra Tỳ
Kheo Giác Nguyên dịch
Nguồn sưu tầm.
PHỤ ĐỀ; SỐNG CŨNG LÀ ĐỂ
CHỦNG BỊ CHO CÁI CHẾT, VÀ CHẾT CŨNG LÀ ĐỂ CHỦNG BỊ CHO KIẾP SỐNG KẾ TIẾP. VÌ
THẾ KHI SỐNG LO ÂU BẬN RỘN THÌ CHẾT CŨNG KHÔNG YÊN, LO ÂU SỢ SỆT. VÀ SỐNG THANH
THẢNG, AN NHIÊN THÌ CHẾT CŨNG SẼ AN NHIÊN.
CHẾT LO ÂU SỢ HÃI THÌ ĐI
VÀO CON ĐƯỜNG TỐI TĂM, KIẾP SỐNG KHỔ ĐAU; NẾU CHẾT AN NHIÊN THÌ SẼ ĐI VÀO CON
ĐƯỜNG SÁNG, AN VUI TỰ TẠI. VẬY CẦN PHẢI TỈNH THỨC TRONG LÚC CÒN SỐNG.
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét