PHẬT GIÁO NHẬT BẢN
Phật giáo Nhật Bản tiếp thu từ Phật giáo Triều
Tiên, Trung Hoa và Ấn Độ. Nhưng họ biết chọn lựa những điều thích hợp với dân tộc
của họ. Nhờ đó họ phát triển và thăng hoa đời sống tâm linh, có cái nhìn chính
xác, dẫn đến việc làm lợi ích cho đạo và đời.
Người Nhật họ nghĩ rằng
đức Phật Thích Ca là vị toàn giác, toàn năng, cứu nhân độ thế toàn hảo. Ngày
nay, theo dấu chân Phật, họ cũng phải nổ lực đạt đến Phật quả, để là lợi ích
cho dân tộc, không phải đem áp đặt những giáo điều không mang lại kết quả tốt.
Lần đầu tiên, sau khi
Phật giáo truyền sang Nhật Bản, chúng ta không thấy nhà sư giảng kinh, nhưng
người thăng tòa thuyết pháp lại chính là Thánh Đức Thái tử. Ông đã giảng ba bộ
kinh lớn của Phật giáo Đại thừa là kinh Pháp Hoa, Duy Ma và Thắng Man. Đặc biệt
cách giảng của ông về ba bộ kinh làm cho người Nhật không thấy có Phật Thích Ca
ở Ấn Độ, dưới con mắt của họ chỉ thấy đức Phật của nhân loại bao trùm cả vũ trụ.
Trong phẩm Như Lai Thọ
Lượng thứ 16 của kinh Pháp Hoa có nói đức Phật ứng hiện ở nhiều chỗ khác nhau, ở
quốc độ này thì có tên này, ở quốc độ khác thì có tên khác, và Ngài tùy theo từng
nơi thuyết pháp giáo hóa chúng sanh. Vì căn cứ phẩm kinh này, người Nhật tin rằng,
đức Phật của họ thực vĩ đại, chi phối cả vũ trụ, chứ không phải chỉ là Phật
Thích Ca hữu hạn ở Ấn Độ. Ở đây ta lấy ví dụ năng lượng của dòng điện, của bin
điện thoại, kết nối với các dòng điện trên khắp thế giới với các máy điện thoại
khác, thì sẽ nhận được âm thanh, áng sáng và hình ảnh của các xứ xa khác. Từ
trường của Pháp thân Phật cũng vậy, bao trùm cả 10 phương thế giới.
Tinh thần kinh Duy Ma,
Thánh Đức cũng làm sáng tỏ tinh thần Phật giáo Nhật Bản hơn nữa, không nên chấp
chặt vào giáo điều và hình thức người xuất gia một cách tuyệt đối. Vì những mô
hình cố định này tiêu biểu cho Phật giáo Ấn Độ, và gây trở ngại cho sự thăng
hoa tâm linh của người Nhật.
Tư tưởng kinh Duy Ma và kinh Thắng Man, nói lên sự tu
tập chứng ngộ, không nằm trong hình thức
người xuất gia. Tư tưởng này không đi theo dấu mòn của các Pháp sư trước
đó, những kiểu mẫu Phật giáo Ấn Độ hoặc Trung Hoa, người Nhật khó chấp nhận được,
vì họ vốn có tinh thần dân tộc rất cao.
Thánh Đức biết triển
khai nét tinh hoa của giáo nghĩa kinh phù hợp với bản chất tự chủ của dân tộc
Nhật. Chính vì vậy, ông được dân chúng Nhật Bản kính trọng như Bồ Tát văn Thù
tái sanh. Và ông đã hình thành một hình thái Phật giáo Nhật Bản mang tính độc lập,
hoàn toàn mới lạ so với Phật giáo Nguyên thủy, hay Phật giáo Trung Hoa.
Đến thời đại Bình An,
các nhà sư Ấn Độ và Trung Hoa
truyền sang Nhật nhiều
tông phái khác nhau, dần dần sinh hoạt của Phật giáo Nhật đi lệch hướng. Đến thế
kỷ thứ 13, ngài Nhật Liên ra đời, phủ nhận các tử tưởng truyền bá Phật giáo Ấn
hay Trung Hoa và chủ trương phục hưng tinh thần của Thánh Đức, với hình ảnh Đức
Phật là Đại Nhật Như Lai, một đức Phật có khả năng chi phối sức sống của muôn
loài giống như mặt trời vĩ đại.
Theo ngài Nhật Liên,
những gì thích hợp lợi ích cho con người vẫn được trân trọng, nhưng không vì thế
mà phải lệ thuộc vào chủ nghĩa văn tự. Ngài soạn ra bộ Lập chánh an quốc luận
trình lên Tướng quân thời Kamakura. Theo đó, ngài đả kích mạnh tư tưởng vãng
sanh Tịnh độ không quan tâm gì đến xã hội mình đang sống. Ngài cũng đả phá pháp
tu Thiền vô vi, không dính líu đến cuộc đời.
Ngài đưa ra pháp tu thực
tiễn, áp dụng thiền quán của Phật dạy để thấy được ý nghĩa sâu xa hàm chứa
trong kinh và ứng dụng vào cuộc sống giúp mọi người thăng hoa. Nói cách khác là
áp dụng văn, tư, tu. Phải học rộng nghe nhiều, không theo chủ nghĩa kinh viện.
Kế đến là suy nghiệm về nghĩa lý sâu sắc của Phật dạy tác dụng như thế nào
trong cuộc sống và sau cùng áp dụng những điều đã suy tư cho được lợi ích bản
thân và xã hội.
Những ý tưởng ấy được
ngài đề xuất để cứu nguy quốc gia, phát huy tinh thần dân tộc, không nên lệ thuộc
phạm trù cố định. Và ngài khẳng định nếu không đi theo hướng tích cực này, chắc
chắn sẽ mất nước, vì mất gốc thì không thể giữ nước được.
Và ta cũng thấy rõ điểm đặc sắc nhất trong thời cận đại của Phật
giáo Nhật Bản là biết thích nghi với xã hội hiện tại để tự mình tồn tại và phát
triển, đồng thời giúp cho đất nước và dân tộc phát triển. Thật vậy, trong thời
kỳ đô thị hóa và công nghiệp hóa, nhiều nhà máy, công trường được thành lập,
cũng như dân chúng sống tập trung một chỗ.
Các nhà canh tân Phật
giáo nghĩ rằng không nên xây chùa cao Phật lớn ở trên núi cao, tốn nhiều tiền của
như trước kia, mà lại bỏ không. Người dân không có thì giờ lên núi lễ Phật như
ngày xưa nữa. Ở mỗi chung cư, họ sử dụng một vài phòng để làm nơi sinh hoạt tín
ngưỡng cho tín đồ, vừa không tốn kém, vừa thích hợp, tiện lợi cho Phật tử đến
sinh hoạt mỗi ngày. Tùy theo yêu cầu của dân địa phương, có thể đến những điểm
sinh hoạt đó, khi thì đọc sách, hoặc nghe giảng pháp, nghe nhạc Phật giáo, hay
tụng một thời kinh sau giờ làm việc. Tất cả những sinh hoạt này giúp cho Phật tử
vừa thư giản được sau một ngày làm việc mệt nhọc, cũng vừa học được những điều
thánh thiện của Phật giáo, giúp họ cảm thấy nhẹ nhàng, an vui, làm hành trang
cho ngày mai tiếp tục cuộc sống mới tốt đẹp.
Các nhà truyền giáo Nhật
Bản đã biết đưa ra phương cách sinh hoạt Phật giáo thích hợp với xã hội. Với
các thời khóa tụng niệm ngắn, gọn, nhẹ nhàng, đỡ mất thì giờ, thì tín đồ mới có
thể thường xuyên tham dự được.
Ngoài ra, các sư cũng
biên soạn những bài kinh tụng bằng tiếng Nhật thích hợp với từng thời kỳ và từng
chỗ khác nhau, nhằm giúp cho mọi người dễ dàng tiếp thu và áp dụng được trong
cuộc sống, đạt đến kết quả tốt đẹp cho bản thân họ, ý tưởng này chịu ảnh hưởng
tinh thần Pháp Hoa, theo ngài Nhật Liên, Đức Phật dạy trong phẩm Phương tiện rằng
niệm một câu Nam mô Phật cũng là hạt nhân để thành Phật. Chỉ một niệm tâm nghĩ
về Phật, Ngài cũng chứng minh, không cần phải hành trì vất vã.
Chính tinh thần canh
tân Phật giáo để sinh hoạt thích hợp với xã hội công nghiệp, nên chúng ta thấy
được nhiều người hưởng ứng. Điển hình như Hội đoàn Phật giáo Sokai Gakkai chỉ
phát triển trong vòng 20 năm mà số lượng tín đồ lến đến 20 triệu người.
Qua lịch sử, nhìn
chung, Phật giáo Nhật Bản luôn đưa ra được những điều thích ứng với yêu cầu của
dân chúng Nhật, phù hợp với từng giai đoạn khác nhau; không phải câu nệ hình thức
hay một bộ kinh nào. Nhờ vậy, Phật giáo Nhật Bản đã xây dựng được tư tưởng vững
vàng đi lên, hiến dâng cho cuộc đời những tinh túy quý báu, sống động.
Chính nhờ những sự đổi
mới, suy nghĩ mới vì mục tiêu lớn lao, thăng hoa dân tộc, nhân loại và chúng
sanh mà từ đó, Phật giáo Nhật tìm được phương cách dâng hiến cho nhân loại những
lợi ích lớn lao, thiết thực. Đó là sự phát triển của triết học Zen (Thiền).
Không thể phủ nhận tinh thần Zen ảnh hưởng trong mọi lãnh vực hoạt động của dân
Nhật. Kể cả trong lãnh vực nghiêm cứu, sáng tạo, cũng nhờ khối óc của Zen mà có
những phát minh hiện đại, những hàng hóa có chất lượng, lợi ích cho đời.
Một điều nữa cũng đáng
ca ngợi, đó là việc người Nhật đã đóng góp công sức chủ yếu, lớn lao trong việc
truyền bá tinh ba của Zen một cách rộng rãi sang các nước Tây phương. Tinh thần
Zen đã thực sự giúp cho người Tây phương giảm được stress trong mọi công việc
và quan trọng hơn nữa, làm cho họ nhận ra được giá trị vô cùng của cuộc sống đạo
đức, tâm linh theo Phật dạy.
Nói đến sinh khí tốt đẹp
của Phật giáo Nhật Bản, chúng ta phải suy nghĩ về tình trạng Phật giáo Việt Nam hiện tại. Cho đến
ngày nay, chúng ta vẫn còn tụng những bài kinh, bài sám bằng chữ Hán, mà người
nghe không hiểu gì. Chưa kể đến những lãnh vực khác. Nói chung, giới Phật giáo
chúng ta không đưa ra được những gì mới cho tín đồ ứng dụng lợi ích trong cuộc
sống của họ.
Thiết nghĩ trước ngưỡng
cửa 21, các nước đang tiến bộ vượt bực, con đường tương lai của Phật giáo chúng
ta phải như thế nào để phục vụ hữu hiệu cho cuộc sống người dân. Đó là vấn đề
quan tâm bức xúc của toàn thể Tăng Ni, Phật tử cần có đáp số nhanh./.
(Trích NSGN số 288-
3-2020- HT Thích Trí Quảng.)
PHỤ ĐỀ: Phật giáo Nhật
Bản nhờ có sự canh tân đổi mới để thích hợp với đời sống người dân, vì thế tinh
thần Phật học được nhiều người dân tiếp cận và
ứng dụng thích nghi vào cuộc sống. Nhờ thế dân giàu nước mạnh, Phật giáo
truyền vào Nhật Bản vào khoản thế kỷ thứ 5, so ra chậm hơn các nước khác, nhưng
lại lớn mạnh không những tại đất nước Nhật mà còn lan tỏa đến các nước Tây
phương, với việc truyền bá tinh ba Zen (Thiền) giúp cho con người các nước Tây
phương giảm được bịnh stress. Đây là một sự lợi ích đáng kể. Hơn nữa tinh thần
Phật giao ăn sâu vào tiềm thức người dân Nhật tạo nên nếp sống chân thật không
điêu ngoa giả dối, vì thế các máy móc, đồ dùng Nhật làm ra đều bền chắc v.v..
Nhìn lại Phật giáo Việt
Nam có bề dày lịch sử, nhưng vẫn còn vướn mắc lệ thuộc văn hóa và những tập tục
tín ngưỡng nhân gian của Trung Hoa từ ngàn xưa đến nay đi vào đạo Phật, khiến
Phật giáo Việt Nam mất đi tinh ba cơ bản. Như kinh điển phần đông đều âm chữ
Hán, người đọc mà không hiểu, tín ngưỡng nhân gian như nhương sao, giải hạn,
ngày tốt, ngày xấu…biến giáo lý đạo Phật thành đạo thờ cúng. Và Phật giáo Việt
Nam còn truyền thống Nam truyền tức Tiểu thừa, tụng đọc kinh bằng âm chữ Phạn
nghe nhưng không hiểu, và truyền thống Nam truyền ăn mặn không ăn chay, đó là một
sự trở ngại cho việc tu tập của mọi người tin Phật. Với những trở ngại như trên
làm sao Phật giáo giữ vững được tinh hoa của Phật giáo, vì thế sự tu học của mỗi
người khó đạt đến giải thoát và giác ngộ./.
{]{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét