ƠN NGHĨA TƯƠNG QUAN
Sở dĩ ta hiện hữu xác thân này là
có từ cha và mẹ cùng với mọi người trong xã hội con người lẫn cả cây cỏ, hoa
lá, núi sông, gió mưa v.v.. để ta tồn tại và có mặt ngày hôm nay. Vì thế ta hiện
hữu là hiện hữu với sự có mặt với con người, với muôn loài và với thiên nhiên.
Không có cha mẹ ta, thì sẽ không bao giờ có ta. Nên ta phải luôn nghĩ đến sự hiện
hữu của cha và mẹ ta. Phải nhìn sâu vào sự sống của ta để luôn nghĩ đến công ơn
của cha của mẹ. Khi ta nhìn sâu vào để thấy công ơn của cha mẹ đối với ta, thì
ta mới toát ra được chất liệu hiếu kính và thương yêu. Nếu chúng ta không có
chánh niệm, tỉnh giác và từ bi để nhìn sâu và thấy rõ được những công ơn to lớn
ấy, thì ta sẽ không có được sự hiếu kính, hoặc nếu có, thì cũng không phải là sự
hiếu kính đích thực. Ta chỉ có sự hiếu kính đích thực, khi nào ta có chánh niệm,
tỉnh giác và từ bi.
Nhìn bàn tay của ta, nhìn trái tim của ta,
nhìn tâm hồn của ta và ta thấy được trong tất cả yếu tố đó đều có mặt của cha mẹ
ta. Và khi ta thấy được rằng, trong sự hiện hữu của mình luôn có cha mẹ, thì đó
là sự hiện hữu có gốc rễ và mình sẽ không cảm thấy bị lạc loài. Đây là điểm hết
sức quan trọng, khi thế kỷ 21 này, người ta có khuynh hướng làm ra những con
người nhân tạo. Và khi những con người nhân tạo bằng máy bắt đầu xuất hiện trên
trái đất chúng ta, thì trái đất chúng ta sẽ có một thảm họa và thế giới con người
sẽ là một thảm họa, bởi vì những con người
được “ sinh ra” bởi thai nhân tạo sẽ không biết được cha mẹ nó ở đâu, nó
không có gốc rễ. Khi đã không có gốc rễ, nó sẽ hành động theo thú tính hoàn
toàn. Nó sẽ hành động theo cảm giác bơ vơ, lạc lõng như một loài không có gốc rễ
và đó là cái nguy hiểm cho thế giới con người. Các nhà đạo đức, các nhà học giả
trên thế giới vẫn còn đang tranh cãi nhiều về vấn đề này. Người ta giả tưởng rằng,
khi mà thế giới con người ra đời bằng bào thai nhân tạo, người ta vẫn chưa tưởng
tượng ra được thế giới con người lúc đó sẽ như thế nào, nhưng chắc chắn rằng,
nó sẽ thấp kém hơn, sẽ bi đát hơn thế giới con người chúng ta đang có mặt. Bởi
vì sao ? Bởi vì trong sự tương quan, khi chúng ta nói một em bé mà em bé đó
không nghe, thì chúng ta có thể nói với cha mẹ nó, với cô dì, chú bác, hoặc có
thể với ông bà nội, ông bà ngoại của nó…
Nhưng, một đứa bé được sinh ra từ bào thai nhân tạo, khi nó hư hỏng mình
sẽ nói với ai đây ? Một con người có chánh
niệm, tỉnh giác và từ bi, mình sẽ rất vinh dự khi mình thấy rằng, mình có mặt
là bởi vì cha mẹ mình đã có mặt, và cha mẹ đã luôn luôn có mặt ở trong mình. Dù
mình có đi bất cứ ở đâu, chỉ cần nhìn bàn tay của mình trong chánh niệm, tỉnh
giác và từ bi mình sẽ tiếp xúc được với cội rễ của mình và từ đó cảm giác cô
đơn của những người con tha hương sẽ không có cơ hội trỗi dậy.
Chúng ta đi những bước đi là không những
đi cho chúng ta, hay đi cho cá nhân ta, mà đi cho cha mẹ mình. Cha mẹ mình có
an toàn hay không, là tùy thuộc vào bước chân an toàn của chính mình. Mình cười,
mình thở cũng là cười và thở cho cha mẹ mình. Ngay cả mình học, mình đỗ đạt,
cũng chính là học và đỗ đạt cho cha mẹ mình. Kỳ thi Đại học vừa qua, có những
em thi bị rớt không vào Đại học được, trong gia đình cha mẹ của mấy em thi bị rớt
buồn thiu như nhà có đám tang vậy, dọn cơm ra không ai ăn được cả. Rõ ràng là
chúng ta đâu phải học cho cá nhân mình, mà học cho cha mẹ mình, cho anh em
mình, cho gia đình mình, và cho cả xã hội mình. Người đệ tử Phật nhìn sâu vào sự
kiện hiện hữu của mình, mình sẽ nhận ra rằng, mình luôn luôn hiện hữu với cha mẹ
mình, với anh chị em mình, với bạn bè mình và hiện hữu cho xã hội. Khi nghe bạn
mình thi rớt, chúng ta cũng ăn không được. Rõ ràng, mình đâu chỉ học cho riêng
mình, mà còn học cho bạn mình.
Ta hiện hữu là hiện hữu với Thầy của
mình, trong đời sống của mình có Thầy của mình. Nếu mình có những hành xử sơ suất,
thì không những mình bị thiệt thòi, đau khổ mà Thầy mình cũng buồn, cũng đau khổ.
Vì thế, người học trò tốt nghiệp ra làm việc thành công ở bất cứ nơi nào, sự
thành công đó đều có sự hiện hữu thành công của Thầy mình, nếu có thất bại thì
Thầy mình cũng bị thất bại theo. Như vậy, mình tu không phải chỉ tu cho mình,
mà còn tu cho Thầy mình, cho cha mẹ mình, cho bạn bè mình và cho cả xã hội của
mình. Mình học không phải chỉ đem vinh quang cho bản thân mình, mà còn đem vinh
quang cho Thầy mình, cho những người đồng cảm với mình. Trong mỗi động tác đều
có cha mẹ, có Thầy, có bạn của mình. Nếu động tác của mình sơ suất, xuống hố
sâu vực thẳm, thì Thầy của mình, cha mẹ mình cũng rơi xuống hố sâu, và bạn bè
cũng vậy. Nếu động tác của mình thăng tiến,
thì mình thăng tiến, cha mẹ mình thăng tiến, Thầy mình cũng thăng tiến và bạn
mình cũng thăng tiến. Khi có chánh niệm tỉnh giác, mình sẽ thấy được như vậy,
thì trong từng giây từng phút mình đi đâu, ở đâu cũng có cha mẹ, có Thầy, có bạn
bè ở trong mình. Nếu mình không có chánh niệm, tỉnh giác và từ bi, thì mình sẽ
không thể biết ơn cha mẹ, biết ơn Thầy, bạn một cách sâu sắc được. Nhìn kỷ mình
sẽ thấy trong đời sống của mình có sự hiện hữu của tất cả mọi người.
Chúng ta ăn cơm trong chánh niệm, chúng ta
quán thấy những thực phẩm mà chúng ta đang ăn là từ những người nhà bếp. Từ khâu đi chợ mua về, rồi mỗi kiến
thức của nhiều người cùng nấu và chế tác ra các món, như cơm, canh, đồ xào,
món trộn, món luộc, tương, rau v.v…kẻ kê
bàn, dọn chén, lau chùi v.v.. trải qua bao công đoạn gần mới có thức ăn để ta
ăn. Rồi ta quán niệm nhân duyên xa từ bát cơm, đâu phải chỉ những người nhà bếp,
mà còn có mặt của những người nông dân, có mặt của các chị bán rau, có mặt của
bác thợ rèn, nếu không có bác thợ rèn, thì không dao để cắt, để gọt. Có người
làm đậu khuôn, có người làm nấm, có người làm chả, có người bửa củi, có người
xay gạo, giả gạo, nấu cơm, có bác xe thồ, có ông giám đốc và nhân viên nhà máy
điện, máy nước, có những nhà sản xuất chén bát, có giám đốc và nhân viên ngân
hàng, có anh công an v.v…rất nhiều nhân và duyên để cho ta có một bát cơm, một
chén canh ngon đưa vào miệng để ăn, để nuôi mạng sống. Chúng ta thấy bát cơm của ta ăn là một bát
cơm được tạo ra từ một trường bách khoa thực tiễn của đời sống. Nên nhìn sâu
vào bát cơm chúng ta thấy có nhiều công sức của rất nhiều người kẻ xa người gần,
để có được bát cơm ta ăn, ta cảm thấy rất hạnh phúc và rất sung sướng. Ăn một
miếng cơm mà đã có mặt nhiều người như vậy, nếu mình ăn với một lòng tham, ăn lật
đật, ăn làm sao cho được nhiều, ăn không suy nghĩ, thì làm sao xứng đáng ! Thường
mình hay phụ bạc với nhau một cách tệ tình, nếu mình ăn không có chánh niệm, tỉnh
giác và từ bi trong khi ăn, mình sẽ khen ngon, chê dỡ, chê ít, chê nhiều, chê mặn,
chê lạt, chê cay, chê thúi v.v..
Mình
nghĩ mà xem ! Mẹ mình ở nhà đi chợ mua đồ về, lặt rau, nấu cơm, nấu nước, nấu
canh, kho cá …. Rồi dọn sẵn lên bàn cho mình, hay vợ mình, chị mình cũng nấu
cơm, nấu canh, rồi dọn sẵn lên bàn cho mình bằng tất cả tấm lòng, bằng nhiều
công sức và thời gian mới có được mâm cơm đầy đủ tươm tất dọn sẵn. Thế mà, mình
đi làm việc về đến nhà, vào bàn ăn, rồi chê mặn, chê lạt, hoặc chỉ lùa lùa ba
miếng cho xong chuyện, hoặc vừa ăn vừa bấm điện thoại, hoặc vừa ăn vừa xem
tivi, xem bóng đá. Ta sống và ăn như vậy, thì đời sống của ta quả thật là phụ bạc và vô vị ! Tại sao mẹ mình, vợ mình, chị mình đã thương
và lo cho mình những thực phẩm để ăn như vậy, mà mình không ngồi để ăn cho đàng
hoàng và sâu sắc, để thấy tâm hồn của mẹ mình, của vợ mình, của chị mình có mặt
ở trong tô canh, ở trong bát cơm ? Ăn mà
không biết những gì đã tạo nên cái ăn ấy, thì ăn như thế gọi là ăn vô vị. Khi
con người quên mất, hay coi thường ân nghĩa của cha mẹ mình, của những người
thân thương của mình, thì người đó có thể gọi là hạng người vô ơn bạc nghĩa
trong cuộc đời này. Gọi là “ thực bất tri kỳ vị” ăn mà không biết mùi vị ngon dỡ…không
nhớ ơn nghĩa …Những người như vậy gọi là những người đánh mất lương tâm trong
cuộc sống, sống mà dường như đã chết, chết
đây là chết cái tâm là vậy, chết từ trong dòng họ mình, chết trong tâm của những
người thân mình, sống không có chất liệu hạnh phúc là vậy.
Thực tập chánh niệm, tỉnh giác và từ
bi là lấy lại năng lượng của tâm, lấy lại tự chủ của mình trong cuộc sống hằng
ngày của mình, để trong đời sống hằng ngày của con người. Khi nào cũng có mặt của
cha mẹ mình, thầy mình, bạn bè mình, những người thương yêu của mình, đồng loại
của mình, và cả muôn loài nữa. Ta nhìn thấy thực phẩm trong một bửa ăn, có mặt
của thực vật lẫn động vật đã mất đi sự sống để cho ta có thức ăn ngày hôm nay.
Khi một thực vật được hoàn thành để trở
thành thức ăn, tức là từ cây lúa, cây rau trưởng thành cho đến thu hoạch cho đến
nay, thì không biết bao nhiêu loài chúng sanh phải chết trong thực vật đó, để
cho mình được ăn. Bao nhiêu con sâu, con kiến, trứng sâu, trứng kiến, con trùn
con dế v.v.. phải hy sinh thân mạng nó dưới lưỡi cày, lưỡi cuốc, bởi thuốc xịt
rầy, bởi dưới sự đốt rác đốt rơm, phát bờ, tháo nước v.v…để mình có được một miếng
rau tươi, để mình có được bát cơm thơm dẽo.
Cho nên, nếu ăn một miếng cơm mà có chánh niệm, tỉnh
giác và từ bi, thì mỗi miếng cơm là một niềm hạnh phúc lớn, chứ không phải đến
lúc ăn no mới hạnh phúc. Khi đưa muỗng cơm chạm vào trong miệng mình, đó là một
hạnh phúc lớn, một cảm giác kỳ lạ trong đời sống của chính mình. Hạnh phúc lớn
là ở đó, chứ không phải hạnh phúc ở nơi miếng thịt to, con cá lớn, ly bia, ly
rượu, hay những thức ăn đắc tiền, mỹ vị, sơn hào hải sản v.v.. Chúng ta ăn ít
cũng được, nhưng mà phải ăn trong chánh niệm, tỉnh thức, ăn cho sâu sắc, ăn
trong hạnh phúc.
Với chánh niệm tỉnh giác và từ bi, hành giả tu
tập, dù bất cứ nơi đâu, thời gian nào, nguyện không bao giờ là kẻ phản bội vô
ơn. Ở trong gia đình nguyện xây dựng cuộc sống tốt đẹp hạnh phúc, ra ngoài xã hội
nguyện làm người tử tế lương thiện. Đối với người tu tập có chánh niệm tỉnh
giác và từ bi, vị ấy phải biết rõ rằng,
trong đời sống ta nên làm gì và không nên làm gì. Vị ấy sống ở đâu làm đẹp
ở đó, sống ở đâu đem lại sự bình an ở đó, nơi nào vị ấy đến nơi đó bình yên và
an lạc cho nơi đó.
Bởi
vậy, chánh niệm tỉnh giác là nếp sống đem lại hạnh phúc, là văn hóa, là đạo đức,
là tuệ quán minh triệt, là niềm tin trong sáng, thuần tịnh. Công hạnh của người
đệ tử Phật là gì ? là nếp sống hiền thiện,
tỉnh giác và từ bi, có quán chiếu, có niềm tin trong sáng thuần tịnh. Trong chánh niệm có giới, tức niềm tin có đạo
đức. Trong chánh niệm có định, tức là sự vững chãi. Và chánh niệm có tuệ, tức
có sự quán chiếu sâu sắc. Chính những cái đó tạo nên hạnh phúc của người đệ tử
Phật.
Trong đời sống của một con người, có khi
thăng, khi trầm, khi tán, khi tụ, khi vui, khi buồn. Đời sống của một gia đình
cũng vậy, khi thăng, khi trầm, khi tán, khi tụ, khi buồn, khi vui. Giàu đó rồi
lại nghèo đó, vinh đó rồi lại nhục đó, phú quý đó, rồi lại cơ hàn đó, đoàn tụ
đó rồi phân ly đó. Ta nhìn kỹ, thì gia đình nào cũng có tình trạng ấy hết,
nhưng mà gia đình có chất liệu của đệ tử Phật, thì khi giàu mình cũng có chánh
niệm, tỉnh giác và từ bi, khi vinh cũng như khi nhục, khi được cũng như khi mất,
khi vui cũng như khi buồn, luôn giữ được chất liệu chánh niệm, tỉnh giác và từ
bi. Nếu mình mất chánh niệm, tỉnh giác
và từ bi, mất niềm tin trong sáng, trong đời sống hằng ngày, thì người đệ tử
xem như là mất hạnh, mất nết, mất nếp sống của mình. Và khi nếp sống của mình
đã mất, thì mình không còn có cơ hội gì để gọi là biết ơn thầy, bạn, cha mẹ, và
mọi người. Mỗi khi đã không biết ơn thì
làm sao để bảo vệ mình ? Có biết ơn cha
mẹ, mình mới bảo vệ thanh danh của cha mẹ mình. Có biết ơn thầy, mình mới bảo vệ danh tiết của Thầy, mình mới đi theo
cái khí tiết của Thầy mình. Có biết ân bạn bè, thì mình mới sống có đạo nghĩa.
Có biết ân quê hương xứ sở, thì mới bảo vệ quê hương. Có biết ơn con người, thì
mình mới chăm sóc, mới trân trọng quyền sống của con người.
Chúng ta thấy ân nghĩa, hiếu kính, nhân quyền,
cũng đều từ nơi chánh niệm tỉnh giác, từ bi mà ra cả. Nếu không có chánh niệm,
tỉnh giác và từ bi, thì không có tuệ, không có tuệ thì đâu có thấy được sự liên
hệ giữa mình và người. Giới định tuệ là chất liệu xuyên suốt trong mọi lãnh vực,
trong mọi hành xử của người đệ tử Phật, mà chánh niệm, tỉnh giác và từ bi cần
phải thực tập miên mật để giới định tuệ luôn luôn sống và hiện tiền./.
( Trích : Một thời làm điệu : HT Thích Thái
Hòa )
{—]–{
0 nhận xét:
Đăng nhận xét