PHƯƠNG PHÁP ĐOẠN TRỪ PHIỀN NÃO
BẰNG
GIỚI - ĐỊNH - TUỆ
1. Người nào không tôn trọng Giới và không giữ
gìn giới luật có thể gian dối, trộm cắp, thậm chí sát hại để đạt được điều mình
cho là hấp dẫn. Nếu đã tạo ác hạnh như vậy, thì đó gọi là phạm giới. Điều ấy có
nghĩa là tham ái đã sinh khởi và vượt khỏi ranh giới chế ngự của giới. Người
tôn trọng giới và giữ giới thanh tịnh sẽ không buông xuôi theo tham ái, và do
vậy, họ sẽ tránh xa gian dối, trộm cắp hay sát hại. Nhờ đó, người ấy thoát ra
khỏi tham ái vốn có thể thúc đẩy mình phạm vào ác nghiệp. Điều này cho thấy
giới là phương pháp, là cách thức để đoạn trừ tham ái thô động. Các khuynh
hướng tâm tà vạy cũng cần được chế ngự. Phải tự chế và tránh xa các tư tưởng
lệch lạc.
Đây chính là
cách để giữ cho mình không bị tham ái chi phối. Một vị Tỳ-kheo không được phép
xin vật dụng từ cư sĩ với động cơ khiến họ dâng cúng. Dù có mong muốn sở hữu
tài vật, vẫn phải hành trì sự chế ngự. Không được trực tiếp hay gián tiếp cầu
xin bất cứ thứ gì. Việc gợi ý hay xúi giục người khác bố thí đều bị cấm. Nếu có
sự ám chỉ hay khuyến dụ như vậy, dù có nhận được vật hay không, thì sự thanh
tịnh của giới cũng bị coi là tổn hại theo Luật tạng. Khi giới được hộ trì và
giữ gìn thanh tịnh, nhờ năng lực chế ngự của giới, người ấy vẫn ở trong trạng
thái không để cho tham ái vượt ra ngoài giới hạn. Tóm lại, việc trì giới bằng
cách tránh xa các ác hạnh về thân và khẩu là yêu cầu tối thiểu trong giáo pháp
của Đức Phật, nhằm đoạn trừ các trạng thái tham ái thô động dẫn đến phạm giới
(vitikkama-kilesā).
2. Định
Tuy nhiên,
việc chế ngự tham ái chỉ bằng giới thôi là chưa đủ. Nó trở nên vững chắc hơn
khi định được tu tập và phát triển thông qua thiền chỉ (samatha). Sự chuyên chú
cố định vào đề mục thiền (kasiṇa), với chánh niệm liên tục, đưa đến sự chứng
đắc Thiền (Jhāna), được gọi là tu tập thiền chỉ (samatha-bhāvanā). Nhờ chánh
niệm cùng với định, tâm gắn chặt vào một đối tượng duy nhất. Nếu tâm có phóng
dật, cần phải đưa tâm trở lại đối tượng quán niệm. Do vậy, trong khi tu tập
thiền chỉ, sự dính mắc khả ái đối với sắc, thanh, v.v. sẽ không thể nào sanh
khởi. Đây chính là cách các tham ái sơ khởi được đoạn trừ nhờ sự phát triển của
định.
3. Tuệ
Định chỉ có
khả năng chế ngự tham ái trong lúc hành thiền. Khi thời thiền chấm dứt, hoặc
khi định bị suy giảm thì tham ái sẽ len vào và lấn át định. Do đó, để tận diệt
tham ái từ gốc rễ, hành giả cần phải tu tập thiền Minh Sát (Vipassanā). Điều
này đơn giản có nghĩa là hành thiền để thành tựu tuệ giác minh sát. Theo đó,
chánh niệm cần phải được thực hiện trong từng khoảnh khắc thấy, nghe, ngửi,
nếm, xúc chạm, hay suy nghĩ; dù đang đi, đứng, nằm, ngồi, co, duỗi, hay cử
động.
Tóm lại, tất
cả các pháp sinh khởi tại sáu cửa giác quan đều phải được quán sát. Nếu làm
được như vậy, những gì được thấy, nghe hay nhận thức sẽ không còn bị xem là khả
ái hay khả lạc, và do đó tham dục không có cơ hội để sinh khởi. Người không
thực hành quán niệm, họ sẽ tìm thấy khoái lạc mỗi khi thấy, nghe, nhận thức, từ
đó sinh ra tham ái. Khi gặp các đối tượng không dễ chịu, tham ái lại khởi lên
đối với các đối tượng khả ái. Ngược lại, một hành giả thường xuyên quán sát mọi
hiện tượng sinh khởi mỗi khi thấy, nghe, hay biết, nếu tuệ giác đã phát triển
đến giai đoạn tuệ diệt (bhaṅga-ñāṇa), hành giả sẽ không còn nghĩ các hiện tượng
ấy là khả ái hay bất khả ái. Hành giả nhận biết chúng là vô thường, do đã trực
nhận sự sinh và diệt của các pháp.
Hơn nữa, do
đặc tướng tự nhiên của vô thường, hành giả tuệ tri các pháp ấy là khổ. Khi đã
thấu đạt điều này đối với mọi điều được thấy, nghe hay nhận thức, thì hành giả
không còn sinh khởi cảm thọ khoái lạc gắn liền với tham ái nữa. Đối với mỗi đối
tượng giác quan được quán sát, tham ái không sinh khởi, và do đó tâm hành giả
được an tịnh. Đây chính là phương pháp đoạn trừ tham ái tiềm ẩn. Purābheda
Sutta Mahāsi Sayādaw Soạn Dhana Pālaka
Chuyện sắc
dục là bệnh chung của người cả cõi đời, chứ không riêng gì hạng trung hạ căn,
bị sắc mê hoặc. Dù là người thượng căn nếu chẳng luôn canh cánh giữ gìn, luôn
nghĩ kinh sợ thì cũng khó khỏi bị mê hoặc. Thử xem từ xưa đến nay bao nhiêu hào
kiệt lỗi lạc, kham làm thánh làm hiền, chỉ do chẳng phá được cửa ải này, đâm ra
thành kẻ hạ ngu bất tiếu, lại còn bị vĩnh viễn đọa trong ác đạo, chẳng biết là
bao nhiêu! Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu chúng sanh thuộc sáu đường trong các thế
giới tâm chẳng dâm sẽ chẳng bị sống - chết tiếp nối. Ông tu tam-muội vốn để
thoát trần lao, dâm tâm không trừ, chẳng thể xuất trần được!” Người học đạo,
vốn để thoát lìa sanh tử, nếu chẳng đau đáu dứt trừ bệnh này thì khó thể thoát
lìa sanh tử. Ngay như pháp môn Niệm Phật, tuy có thể đới nghiệp vãng sanh,
nhưng nếu tập khí dâm cố kết, sẽ bị cách ngăn cùng Phật, khó thể cảm ứng đạo
giao! Muốn tuyệt cái họa này, không gì bằng trông thấy hết thảy nữ nhân đều
khởi thân tưởng, oán tưởng, bất tịnh tưởng:
1) Thân tưởng
là thấy người già coi như mẹ, thấy người lớn hơn coi như chị, thấy người trẻ
hơn coi như em gái, thấy trẻ nhỏ coi như con. Dục tâm dẫu lừng lẫy chẳng dám
khởi ý niệm bất chánh đối với mẹ, chị, em, con. Xem hết thảy nữ nhân đều là mẹ,
chị, em, con của mình thì lý bèn chế ngự dục, dục không do đâu phát được!
2) Oán tưởng
là phàm thấy gái đẹp bèn khởi tâm ái; do tâm ái đó bèn đọa ác đạo, chịu khổ bao
kiếp chẳng thể thoát lìa. Như thế thì những gì gọi là mỹ lệ, kiều mị so ra còn
độc hại hơn giặc cướp, cọp, sói, rắn độc, bò cạp độc, trầm độc gấp trăm ngàn
lần. Với những oan gia cực đại ấy vẫn cứ quyến luyến mơ tưởng, há chẳng phải là
kẻ mê gấp bội ư?
3) Bất tịnh tưởng là vẻ đẹp lộng lẫy động lòng
người chỉ là một lớp da mỏng bên ngoài. Nếu bóc lớp da ấy đi thì chẳng dám
nhìn: xương, thịt, máu mủ, phân, tiểu, lông, tóc, đầm đìa, ròng ròng, trọn
không có vật gì đáng cho người khác yêu mến được! Nhưng do lớp da mỏng bao bọc,
nên lầm sanh ái luyến; bình đẹp đựng phân, người ta chẳng muốn nâng niu. Nay
lớp da mỏng của mỹ nhân chẳng khác cái bình đẹp đẽ, những thứ được bọc trong đó
còn gớm ghiếc hơn phân nữa!
Há nên yêu
mến lớp da bên ngoài, quên đi những thứ bẩn thỉu chứa bên trong da, lan man
khởi vọng tưởng ư? Nếu chẳng khăng khăng kiêng sợ, đau đáu trừ khử tập khí ấy,
sẽ chỉ thấy tư chất mỹ lệ khiến cho mũi tên ái lọt thấu xương chẳng thể nhổ
được. Thường luôn như thế, lại muốn chết đi chẳng vào bụng người nữ sẽ chẳng
thể được! Vào trong bụng người nữ còn tạm được, chứ vào trong bụng súc sanh cái
biết làm sao đây? Thử suy nghĩ đến điều này, tâm thần kinh hãi. Nhưng muốn thấy
cảnh mà chẳng khởi nhiễm tâm thì phải trong lúc chưa thấy cảnh, thường khởi ba
thứ tưởng này; khi thấy cảnh sẽ tự có thể chẳng bị cảnh chuyển. Nếu không, dẫu
không thấy cảnh, ý vẫn vấn vương, rốt cục vẫn bị tập khí dâm dục ràng buộc. Vì
thế, phải nỗ lực gột trừ các tập khí ác nghiệp thì mới có phần được tự do. Mỗi
ngày ngoại trừ lúc làm việc ra, chuyên tâm niệm danh hiệu Phật. Sáng chiều đối
trước Phật, cạn lòng thành, trọn lòng kính, khẩn thiết sám hối tội nghiệp từ vô
thỉ đến nay. Hành như thế lâu ngày sẽ có lợi ích chẳng thể nghĩ bàn mà không hề
hay biết. Kinh Pháp Hoa dạy: “Nếu có chúng sanh nhiều dâm dục, thường niệm cung
kính Quán Thế Âm Bồ Tát liền được lìa dục”, sân khuể, ngu si cũng thế.
Do vậy, ta
biết: Chí thành niệm thánh hiệu Di Đà, Quán Thế Âm thì ba Hoặc tham - sân - si
sẽ tự tiêu trừ. Thêm nữa, cõi đời nay đang hoạn nạn, ngoại trừ việc niệm Phật
ra, cần phải niệm thêm thánh hiệu Quán Thế Âm, trong âm thầm sẽ có sự xoay
chuyển chẳng thể nghĩ bàn, ngõ hầu chẳng đến nỗi khi túc nghiệp hiện tiền,
không cách gì đối phó. Lại nên thường đọc những sách dạy về kiêng dâm, nhân
quả, báo ứng, xa lìa những bạn bè cuồng loạn, phóng đãng, hèn tệ thì trong tâm
được chánh, sự dụ hoặc bên ngoài dứt tuyệt, sẽ tự có thể thành tựu tịnh nghiệp
vậy! Hãy gắng lên!!!
(Trích Ấn
Quang Pháp Sư Văn Sao Chánh Biên Q.2 - Thư trả lời cư sĩ X… ở Dũng Giang)
0 nhận xét:
Đăng nhận xét