HỎI – ĐÁP- 12 NHÂN DUYÊN
Hỏi: Cái gì
là nhân của khổ?
Đáp: Ái là
nhân của khổ.
Hỏi: Tại sao ái là nhân của khổ?
Đáp:
• Vì ái sinh
ra chấp thủ vào các hành;
• Vì chấp thủ
các hành nên tạo tác nghiệp hữu;
• Vì có
nghiệp hữu nên phải đi tái sanh;
• Vì tái sanh
nên phải già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì thế ái là nguyên nhân của
khổ.
Hỏi: Có bao
nhiêu loại ái?
Đáp: Có ba
loại ái:
• Dục ái:
Tham ái với cảnh trần;
• Hữu ái:
Tham ái với cõi sống;
• Vô hữu ái:
Tham ái với sự ngộ nhận là không còn tồn tại gì sau khi chết.
Hỏi: Tại sao
chúng sinh lại tham ái với cảnh trần?
Đáp: Vì khi tiếp xúc với cảnh trần khởi lên sự tác ý sai lầm cho rằng:
• Cảnh trần
là bền vững (Chấp thường);
• Cảnh trần
là an vui (Chấp lạc);
• Cảnh trần
là thật tướng (Chấp ngã);
• Cảnh trần
là tốt đẹp (Chấp tịnh). Vì vậy mà chúng sinh tham ái với cảnh trần.
Hỏi: Muốn không tham ái với cảnh trần thì phải làm như thế nào?
Đáp: Khi tiếp
xúc với cảnh trần thì cần tác ý như thật:
• Cảnh trần
là không bền vững (Vô thường);
• Cảnh trần
là khổ đau (Khổ);
• Cảnh trần
là rỗng không (Vô ngã);
• Cảnh trần
là ô uế (Bất tịnh); thì chúng sinh sẽ không tham ái với cảnh trần.
Hỏi: Tại sao
chúng sinh lại tham ái với cõi sống?
Đáp: Vì chúng
sinh chấp thủ 5 uẩn:
• 5 uẩn là
ta;
• 5 uẩn là
của ta;
• 5 uẩn là tự
ngã của ta; nên chúng sinh tham ái với các cõi sống.
Hỏi: Tại sao
chúng sinh lại tham ái với sự chấm dứt sau khi chết?
Đáp: Vì những
chúng sinh này chỉ tin những gì họ có thể thấy được (Như ếch ngồi đáy giếng).
Hỏi: Tại sao
thế gian lại chạy theo ái?
Đáp: Vì ái có
vị ngọt.
Hỏi: Tại sao
Đức Phật lại nói phải đoạn trừ ái?
Đáp: Vì ái có
sự nguy hiểm.
Hỏi: Cái gì
là vị ngọt của ái?
Đáp: Sắc –
Thanh – Hương – Vị – Xúc: Khả ái, khả hỉ, khả lạc, hấp dẫn là vị ngọt của ái.
Hỏi: Cái gì là sự nguy hiểm của ái?
Đáp: Sắc –
Thanh – Hương – Vị – Xúc sẽ bị biến dị, đổi khác không tồn tại mãi mãi. Đó là
sự nguy hiểm của ái.
Hỏi: Ái có
đặc tính gì?
Đáp: Ưa thích
là đặc tính của ái.
Hỏi: Ái có
nhiệm vụ gì?
Đáp: Chấp thủ
là nhiệm vụ của ái.
Hỏi: Ái có
biểu hiện gì?
Đáp: Không
thoả mãn là biểu hiện của ái.
Hỏi: Nhân gần
của ái là gì?
Đáp: Cảm thọ
là nhân gần của ái.
Hỏi: Cái gì
làm cho ái tăng trưởng?
Đáp: Tà kiến
làm cho ái tăng trưởng.
Hỏi: Cái gì
làm cho ái đoạn diệt?
Đáp: Chánh
tri kiến làm cho ái bị đoạn diệt.
Hỏi: Thế nào
là tình thương của tham ái? Thế nào là tình thương của lòng từ ái?
Đáp: Tình
thương có chấp thủ là tham ái. Tình thương không có chấp thủ là từ ái.
Hỏi: Chấp thủ
có nghĩa là gì?
Đáp: Là tâm
lý cho rằng: Cái này, cái kia là ta, là của ta, là tự ngã của ta thì đó là chấp
thủ.
Hỏi: Chấp thủ
thì sẽ như thế nào?
Đáp: Chấp thủ
thì mọi hành động sẽ để lại nghiệp hữu. Nghiệp sẽ dẫn đến sự tái sinh ở tương
lai.
Hỏi: Nếu không có chấp thủ thì các hành động ấy sẽ như thế nào?
Đáp: Sẽ là
hành động không tạo thành nghiệp (Vô ký).
Hỏi: Vậy cái
gì là nguyên nhân của sự tái sinh?
Đáp: Nghiệp
hữu.
Hỏi: Cái gì
là nhân tạo ra nghiệp hữu?
Đáp: Chấp
thủ. Hỏi: Cái gì sinh ra chấp thủ?
Đáp: Ái.
Hỏi: Cái gì
sinh ra ái?
Đáp: Thọ.
Hỏi: Cái gì
sinh ra thọ?
Đáp: Xúc.
Hỏi: Cái gì
sinh ra xúc?
Đáp: Căn –
trần.
Hỏi: Cái gì
sinh ra căn – trần?
Đáp: Danh
sắc.
Hỏi: Cái gì
sinh ra danh sắc?
Đáp: Thức.
Hỏi: Cái gì
sinh ra thức?
Đáp: Hành.
Hỏi: Cái gì
sinh ra hành?
Đáp: Vô minh.
Hỏi: Cái gì
là quả của khổ?
Đáp: Già,
bệnh, chết, sầu bi, ưu não.
Hỏi: Cái gì
là gốc rễ của khổ?
Đáp: Vô minh.
Hỏi: Vậy tại
sao nói ái là nguyên nhân của khổ?
Đáp: Vì ái
chiêu cảm các pháp bất thiện khiến cho chúng sinh bị cuốn hút trong sinh tử.
Hỏi: Vậy khổ
có tất cả bao nhiêu nhân?
Đáp: Có 12 nhân: 1/ Vô minh; 2/ Hành; 3/ Thức; 4/ Danh-sắc; 5/ Lục nhập;
6/ Xúc; 7/ Thọ; 8/ Ái; 9/ Thủ; 10/ Hữu; 11/ Sinh; 12/ Lão tử.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét